Củ Dong Rừng Đổi Vị Nước Khe Trong
Chương 14: Lưới giăng rừng cấm
Âm hưởng phát súng kíp dội vào vách đá Khau Vang còn chưa dứt, thằng Tỏ đã giật thót người, hai mắt quầng đỏ long lên sòng sọc. Nó buông phắt thanh tre gạt bột, toan vớ lấy cây xà beng dựng góc lán lao bổ ra ngoài.
“Đứng im đấy!”
Cụ Mâu Thế Trực rướn người tới, bàn tay xương xẩu nhưng dẻo quạnh chộp chặt lấy cổ tay cháu nội. Sức giữ của cụ già chín mươi tư tuổi không lấn át được thanh niên, nhưng ánh mắt quắc thước cùng giọng nói đanh lại như chém vào đá tảng lập tức ghìm chặt bước chân nôn nóng của Tỏ.
“Mày cầm xà beng chạy bạt mạng lên rừng thì làm được cái gì?” Cụ Trực nghiêm giọng, ngực áo chàm phập phồng sau một đêm thức trắng. “Có tiếng súng tức là chúng nó bắn hạ thú rừng cảnh giới hoặc dọa người. Mày nhảy xổ vào họng súng của quân liều mạng à? Đi theo tao tìm chú Chẩm!”
Cụ buông tay Tỏ ra, chống gậy trúc đực thoăn thoắt sải bước ra khỏi lán mó nước. Dọc theo con mương bương dẫn nước ngầm, Chủ nhiệm Bùi Khắc Chẩm cùng hai dân quân xã đeo súng kíp chéo vai cũng đang hớt hải chạy túa lại. Mặt Chẩm tái mét, chiếc kính râm gãy gọng buộc dây thép trễ xuống tận sống mũi, chiếc áo đại cán bạc màu đẫm sương sớm.
“Cụ Trực! Tiếng súng nổ trên đèo, có khi bọn lâm tặc đốn gỗ dạt từ bến sông lên!” Chẩm thở dốc, giọng đượm vẻ hoang mang tột độ.
Cụ Trực không đáp ngay. Cụ nhìn làn sương mù đang cuộn tròn trên đỉnh dốc đá tai mèo, lắng tai nghe tiếng chim két râm ran bay dạt về hướng bờ suối cạn. Bằng kinh nghiệm của gần trọn thế kỷ gắn bó với từng hốc cây ngọn cỏ xứ này, cụ điềm tĩnh nhặt một đoạn cành ổi khô rơi bên vệ đường, ngồi thụp xuống vạt đất mịn đầu bờ mương.
“Chú Chẩm, lại đây tôi bảo.” Mũi cành cây trên tay cụ Trực vạch nhanh vài đường rãnh ngoằn ngoèo trên nền đất. “Trên đỉnh Khau Vang chỉ có hai cây nghiến sụn đầu nguồn bị chúng nó nhòm ngó từ đợt trước. Muốn kéo được súc gỗ to xuôi về bến đò sông Đà, chúng nó không thể đi đường dốc đứng phía bản mình, càng không dám men theo suối Vó Boong vì dân đang làm bột ở đây.”
Đoạn cành cây trong tay cụ già khẽ chấm mạnh hai điểm rõ rệt trên mặt đất:
“Một là lối Khe Cạn luồn qua vách đá Thằn Lằn, hai là dốc Cổng Trời trổ thẳng ra bến đò Tạ Bú. Toán này chỉ có ba thằng. Một thằng cảnh giới cầm súng kíp, hai thằng lo xẻ gỗ và buộc chão. Tiếng súng nổ vừa rồi ở mỏm Bò Đực, chứng tỏ chúng nó đang dồn gỗ xuống dốc Cổng Trời để kịp chuyến mảng trưa.”
Chủ nhiệm Chẩm nhìn những nét vẽ rành rẽ của cụ Trực, đôi mày nhíu chặt giãn ra, ánh mắt ánh lên vẻ khâm phục:
“Rõ ràng quá rồi! Đồng chí Luân, đồng chí Thiết đâu, kiểm tra lại đạn kíp!”
Chẩm quay sang cụ Trực, giọng dứt khoát:
“Tôi sẽ dẫn một mũi vòng qua vách đá Thằn Lằn đón đầu, nhưng lối dốc Cổng Trời rậm rạp lắm, sương muối phủ kín thế này anh em dân quân chưa chắc đã thuộc từng ngách đá.”
“Cháu dẫn đường cho!” Tỏ bước vọt lên một bước, lồng ngực vạm vỡ căng phồng dưới làn áo vá. “Lối ấy cháu từng theo ông nội đi tìm khóm dong giống, từng khe đá, bụi gai cháu thuộc như lòng bàn tay. Cháu cam đoan đưa các anh dân quân ém đúng họng dốc trước khi chúng nó kéo gỗ tới!”
Cụ Trực ngước nhìn đứa cháu nội. Trong đôi mắt sáng quắc của chàng trai hai mươi mốt tuổi, không còn bóng dáng của sự bồng bột, tăm tối dạo nào khi cầm bọc tiền cọc buôn lậu dưới gầm sàn, mà ngời ngời ý chí bảo vệ cội nguồn của người con bản Mường. Cụ gật đầu, vỗ nhẹ vào bả vai rắn chắc của cháu:
“Đi cẩn thận nghe con. Đợi chú Chẩm khép góc hãy hô hào, chớ có lao vào trước mũi súng. Giữ rừng nghiến cũng là giữ lấy mó nước trong cho nồi miến của bản mình.”
“Ông nội cứ yên tâm!” Tỏ siết chặt quai dao quắm bên hông, cùng hai dân quân xã thoăn thoắt bấm chân men theo triền dốc ngược lên rừng thẳm. Chẩm cũng dẫn hai người còn lại tức tốc rẽ lối Khe Cạn, bóng áo chàm và áo đại cán thoắt cái chìm nghỉm vào màn sương sớm bảng lảng.
Không gian quanh lán mó nước tĩnh lặng trở lại, chỉ còn tiếng róc rách của dòng nước khe ngầm trong vắt từ lòng núi chảy qua máng nứa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…