Củ Dong Rừng Đổi Vị Nước Khe Trong
Chương 15: Bàn tay giữ lửa
Cụ Trực nhìn mâm tinh bột dong khô ráo, trắng tinh như mảng tuyết sớm trên tay Thảo, rồi đưa mắt nhìn niềm hân hoan rạng ngời trên từng gương mặt dân bản ngoài sân kho. Khẽ gật đầu, chòm râu bạc rung rinh theo nụ cười hiền hậu, cụ cất giọng trầm ấm:
“Được rồi con. Rừng đã yên, nắng hanh vừa độ, chiều nay ông cháu mình nhóm lửa tráng mẻ bánh đầu tiên.”
Lời cụ như giọt nước tưới vào chồi non. Thảo reo khẽ một tiếng trong veo, ôm chặt mâm bột vào lòng rồi thoăn thoắt rảo bước theo cụ về phía căn nhà sàn ba gian quen thuộc.
Gian bếp giữa nhà sàn cụ Trực rực sáng khi nắng chiều vừa ngả bóng về sườn tây vách Khau Vang. Ngọn lửa bập bùng liếm quanh kiềng ba chân, tỏa ra hơi ấm nồng đượm của củi nghiến khô nỏ. Mùi bồ hóng quyện với hương gỗ mộc xua tan cái se lạnh của cữ đầu đông. Tỏ đã lăng xăng xách về hai thùng nước khe trong vắt múc từ máng bương ngầm, cẩn thận đổ đầy chiếc chảo gang lớn đặt trên bếp lò đắp bằng đất thó.
Cụ Trực ngồi trên chiếc đòn gỗ nghiến thấp, đặt chiếc chậu thau đồng cũ kỹ trước mặt. Cụ khẽ vẫy tay gọi Tỏ lại gần:
“Thằng Tỏ, lại đây tao chỉ cho. Nghề tráng miến mộc này, cái gốc nằm ở chỗ khuấy hồ. Bột dong đỏ rừng hoang không giống thứ bột gạo ngoài chợ. Bột sống mà gặp nước sôi sùng sục ngay là vón cục như đá cuội; còn nước nguội quá thì trơ ra, bánh tráng lên bở nát không thành sợi.”
Tỏ chăm chú lắng nghe, hai mắt không rời từng ngón tay thô ráp của ông nội. Cụ Trực chỉ vào lưng chậu bột tinh chất đã nghiền mịn, phân giải rành rọt:
“Lấy ba phần bột khô hòa với một gáo nước lạnh cho tan đều, đấy là giữ lấy phần cốt sống. Rồi múc hai gáo nước sôi sùng sục trên chảo dội thẳng vào giữa lòng chậu, hai tay mày phải đảo thật nhanh, thật khỏe. Đôi cánh tay mày bấy lâu quen bửa củi bẩy đá, nay phải học cách ghì theo vòng tròn cho bột chín tới.”
Tỏ hít một hơi sâu, hai bàn tay gân guốc nắm chặt chiếc mái chèo nứa bản mỏng cụ Trực vừa trao. Khi dòng nước sôi đầu nguồn từ bàn tay Thảo dội xuống bốc hơi nghi ngút, Tỏ dồn lực vào hai bả vai, thoăn thoắt quấy tròn. Dưới sự thúc giục nhịp nhàng của cụ Trực, những thớ bột trắng ngần dần chuyển mình, quánh dẻo lại, sền sệt và bóng mượt như một khối ngọc thạch mềm mại. Từng giọt mồ hôi lấm tấm trên trán Tỏ rỏ xuống sàn nứa, nhưng chàng trai trẻ không hề lơi tay, chỉ thấy khối hồ quyện chặt, dẻo quẹo mà không vướng lấy một hạt ốc trâu nào.
“Tốt lắm con! Dẻo quánh thế này là bột chín tới rồi, giữ được cái dai tự nhiên của củ rừng,” cụ Trực mỉm cười gật đầu, mắt ánh lên vẻ hài lòng.
Cụ quay sang phía mé bếp lò, nơi chiếc nồi hơi tráng bánh bằng tôn dày đã được Tỏ kê vững chãi trên ba hòn đá tảng. Cụ vẫy Thảo lại gần, chỉ tay vào mảnh vải màn mộc dệt bằng sợi bông thô:
“Cháu Thảo, việc của cháu là phần khéo léo nhất. Căng mặt vải này phải phẳng như mặt trống, buộc lạt giang quanh miệng nồi thật chặt, không để phập phồng. Lửa dưới đáy nồi chỉ được để củi nghiến cháy liu riu, hơi nước bốc lên phải đều đặn như hơi thở thì lá bánh mới chín trong.”
Thảo cẩn thận vuốt phẳng mép vải, đôi bàn tay thoăn thoắt luồn sợi lạt dẻo siết chặt quanh vành nồi, kiểm tra độ căng bằng cách vỗ nhẹ đầu ngón tay. Mặt vải phát ra tiếng bồm bộp giòn giã.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…