Củ Dong Rừng Đổi Vị Nước Khe Trong
Chương 5: Ranh giới của niềm tin
Bóng dáng gầy gò của Chủ nhiệm Bùi Khắc Chẩm in thẫm trên nền đất trắng lóa dưới nắng trưa. Đôi dép lốp nện lạo xạo trên mép sỏi bờ ranh, chiếc bút máy Trường Sơn cài nơi túi áo đại cán rung rinh theo từng bước chân sốt ruột. Đưa mắt quét một lượt từ hai sào đất vừa được xới luống thẳng thớm đến hai chiếc gùi nứa rỗng không vương đất đỏ dưới chân cụ Trực, Chẩm nhíu chặt đôi lông mày sâu róm, cất giọng gay gắt:
“Các đồng chí làm cái gì dưới này thế hả? Ai cho phép mang cuốc xẻng ra tự tiện vỡ vạc đất bãi thế này? Đây là đất dự phòng của ban quản trị hợp tác xã cơ mà!”
Thằng Tỏ đứng thẳng người, hai bàn tay siết chặt cán cuốc đến trắng bệch các đầu ngón. Mặt nó đỏ gay gắt dưới cái nắng chang chang, lồng ngực vạm vỡ phập phồng vì nghẹn ức. Nó bước dấn lên một bước, gân cổ định phân bua:
“Đất dự phòng mà bỏ trơ sỏi đá mấy năm nay à chú? Dân bản sắp chết đói đến nơi rồi, ngô sắn trên nương cháy sạch, chúng tôi…”
“Tỏ!”
Tiếng cụ Mâu Thế Trực vang lên trầm ấm nhưng đanh gọn. Cụ khẽ vung đầu gậy trúc đực chắn ngang trước ngực cháu nội, giữ nó lùi lại nửa bước. Chòm râu bạc dài đến ngực của cụ rung rinh theo ngọn gió thung lũng. Cụ đưa bàn tay gân guốc thô ráp vỗ nhẹ lên bắp tay đang căng cứng của Tỏ, rồi ngước đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào vị cán bộ bốn mươi tám tuổi đang đứng trên gờ đá cao hơn.
“Để tao nói chuyện với chú Chẩm.” Cụ Trực ôn tồn bảo cháu, đoạn quay sang Chẩm, giọng điệu vừa giữ lễ phép họ hàng vừa đượm vẻ khoan thai của bậc trưởng lão: “Chú Chẩm đấy à? Nắng nôi đứng bóng thế này mà đồng chí chủ nhiệm vẫn lặn lội đi kiểm tra bờ ranh cơ đấy.”
Bắt gặp ánh nhìn thấu suốt của người ông chú họ ngoại, khí thế hầm hố của Chẩm hơi chùng xuống một nhịp. Ông đưa tay đẩy lại chiếc gọng kính râm buộc dây thép xộc xệch trên sống mũi, hắng giọng lấy lại vẻ nghiêm nghị:
“Thưa cụ Trực… Cháu đang đi rà soát lại quỹ đất nông nghiệp của Đội hai. Nhưng cháu thấy thằng Tỏ với cái Thảo lại bỏ việc công điểm, kéo nhau xuống đây cuốc xới tùm lum. Đất đai là tài sản tập thể, sao cụ lại để chúng nó tự ý mang rễ cây dại trên núi về chôn bừa bãi thế này? Rồi còn ngày công lao động nữa, hợp tác xã phân công đào vét lòng suối Vó Boong, vắng mặt là bị đánh tụt xuống công C, cụ thừa biết nội quy rồi mà!”
Cụ Trực chống gậy trúc, thong thả bước từng bước chắc nịch lại gần bờ ranh. Đôi mắt cụ nhìn theo dải đất mùn đen nhánh chạy dọc mép đá vôi, nơi hai sào đất vừa được phủ kín bởi những mầm dong tía cứng cáp.
“Chú Chẩm này, ông già này sống ngót một thế kỷ ở cái đất Nà Pùng này rồi, từng tấc đất ven mó nước ra sao tôi còn lạ gì,” cụ Trực điềm đạm cất tiếng, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên thân gậy. “Hai sào bãi bồi này đất lẫn sỏi tai mèo, trũng thấp lại sát chân núi, bao nhiêu vụ khoán trước hợp tác xã giao cho đội nào thì đội ấy đều lắc đầu từ chối vì ngô không trổ bắp, sắn chẳng chịu đâm củ. Bỏ hoang cho cỏ gianh mọc lút đầu gối thì ích gì cho tập thể?”
Chẩm chép miệng, vẻ sốt ruột hiện rõ trên khóe mắt nhăn nheo:
“Dẫu có bỏ hoang thì vẫn nằm trong sổ địa chính của xã! Huống hồ cái giống củ dong riềng trên dốc Khau Vang chỉ là thứ cỏ dại mục đồng hay đào nướng chơi. Cụ già rồi, sao lại tin vào mấy cái thứ ấy? Lúa ngô do tỉnh cấp giống còn cháy khô vì hạn, cái giống rễ rừng này mang về chỉ tổ làm mất công mất buổi, rồi lấy gì nộp chỉ tiêu lương thực cuối năm?”
“Nó không phải cỏ dại đâu chú Chẩm,” cụ Trực ngắt lời bằng một ngữ điệu rành rọt, thấu tình đạt lý. “Năm đói bốn lăm, rồi mấy năm kháng chiến đánh Pháp gian khổ, chính cái củ dong riềng đỏ này trên núi Khau Vang đã cứu sống cả làng, cả bộ đội qua mùa giáp hạt đấy. Giống cây này sinh ra từ kẽ đá, nó biết ngậm sương đêm, chắt từng giọt ẩm dưới gầm đá vôi mà sống. Nó không cần một cân phân lân, phân đạm nào của nhà nước, cũng chẳng tranh một giọt nước tưới của nương ngô tập thể. Để hai đứa nhỏ cắm mầm xuống đây, cốt là tìm thêm củ bột cứu đói cho bà con khi mùa đông tới, chứ có ai tơ hào một tấc đất nào đem về cất vào buồng riêng đâu mà chú bảo lấn chiếm?”
Chẩm im lặng nhìn cụ già chín mươi tư tuổi. Nhìn nét mặt đăm chiêu của người cháu họ ngoại, cụ Trực biết lời mình đã trúng vào nỗi lo đang đè nặng lên vai ông cán bộ xã: kho lương thực của hợp tác xã đã cạn kiệt, xã viên bữa nay chỉ còn non ba lạng sắn khô mốc độn lá tàu bay, nương ngô trên đồi thì vàng cháy. Dẫu vậy, gánh nặng kỷ luật và cái khuôn phép công điểm bao cấp dường như vẫn còn giằng xé trong lòng Chẩm.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…