Cuốn Phả Ký Chắn Sóng Dưới Mái Từ Đường
Chương 7: Khói Mực Tùng Yên
Cụ Kỷ Đức Viễn nhìn chăm chú vào lớp bụi mịn vừa rơi xuống mặt bàn lim, chầm chậm đưa tay gạt nhẹ. Dưới ánh lửa đèn dầu sở leo lét, những sợi gân giấy dó bị lưỡi thép liếm qua lộ rõ vẻ xơ xác, đứt đoạn nham nhở. Cụ nâng cặp kính đồi mồi nhìn Kỷ Du. Trước mặt cụ, thiếu niên mười sáu tuổi cắn chặt môi dưới, hai bàn tay siết lại giấu sau vạt áo thô màu tro, ánh mắt đượm vẻ bàng hoàng xen lẫn phẫn uất khi tận mắt thấy vết tích gian giảo.
Cụ Đức Viễn thở dài, giọng trầm tĩnh mà rành rẽ:
“Cháu thấy rồi đó. Thớ giấy dó ngự dụng của tiên tổ dẫu dai bền trăm năm, nhưng hễ bị mũi thép chạm vào gọt nạo, gân giấy ắt sẽ tổn thương. Kẻ cạo sửa dù khéo tay đến mấy cũng chỉ đánh lừa được mắt trần ngoài sáng, chẳng thể nào giấu nổi vệt tro bụi trước ngọn lửa tổ đường.”
Kỷ Du khẽ cúi đầu, giọng nói nghẹn ngào nhưng dứt khoát:
“Thưa Thúc tổ, giấy đã bị cạo mỏng như vậy, nếu kẻ gian viết chữ mới đè lên thì làm sao phân biệt được thật giả?”
Cụ Đức Viễn khẽ vuốt chòm râu bạc như cước, ánh mắt lộ vẻ tán thưởng trước sự nhạy bén của người cháu:
“Chữ viết dựa vào mực. Mực chính bản của tiên tổ là mực tùng yên thượng hạng, còn thứ mực của phường gian trá ắt chỉ là đồ phẩm nhuộm tạp nham. Đêm đã khuya, cháu hãy về phòng an nghỉ. Sớm mai, lão sẽ đưa cháu đi một chuyến.”
Khi vệt sáng rạng đông vừa le lói trên rặng tre ngà, màn sương sớm lạnh buốt còn bảng lảng phủ kín mặt sông Thanh Khê. Cụ Đức Viễn vận chiếc áo the nâu giản dị, tay chống gậy trúc trượng, dẫn Kỷ Du lặng lẽ rời từ đường bằng lối sau. Hai ông cháu bước xuống con đò ngang nơi bến vắng, xuôi theo làn nước mờ ảo để sang phố thợ ven sông. Nơi ấy vốn là đất trăm nghề trù phú của phủ Vĩnh An, quy tụ phường thuộc giấy, thợ mộc chạm và các lò chế tạo văn phòng tứ bảo lừng danh khắp vùng.
Cụ đưa Kỷ Du rẽ vào con ngõ nồng đượm mùi nhựa cây ngai ngái, ghé xưởng luyện mực cổ truyền của họ Tạ. Trong gian nhà lợp ngói âm dương ám đầy bồ hóng, các lò đất nung hình vòm đang âm ỉ cháy suốt ngày đêm. Từng ngọn bấc dầu bốc lên làn khói đen kịt tụ lại trên nóc vòm, bám thành từng lớp muội tùng yên mịn như nhung.
Chỉ tay về phía chiếc nong tre gom muội than, cụ Đức Viễn trầm ấm bảo:
“Cháu Du, nhìn cho kỹ. Mực tùng yên chính tông gom từ khói đốt nhựa thông già trên núi cao, giã hàng vạn chày cùng keo da trâu ninh nhừ, ngâm với nước bồ kết và vỏ trấu nung, rồi mới ép khuôn phơi suốt ba mùa đông. Mực ấy mài ra đen nhánh như mắt huyền, ngấm sâu vào ruột thớ dó, trăm năm phảng phất mùi thơm nhựa thông thanh khiết, ngâm nước không nhòe, phơi nắng không phai.”
Cụ lấy thỏi mực cổ đặt trên kệ đưa cho Kỷ Du ngửi làn hương dịu nhẹ rồi tiếp tục răn dạy:
“Thế nhưng, thứ mực than củi của phường chợ thì khác hẳn. Chúng đốt trấu mục hay than tạp, pha da lợn nấu vội và phẩm đen rẻ tiền. Mực ấy khô nhanh nhưng xỉn đục, nồng mùi hôi tanh, chỉ bám hờ trên mặt xơ, gặp ẩm là mốc meo, gặp nước là loang lổ.”
Rời xưởng mực, hai ông cháu ghé quán chè xanh dưới gốc đa cổ thụ đầu bến thợ. Cụ Đức Viễn chọn chiếc bàn tre khuất gió, gọi hai bát chè ấm nóng rồi khéo léo dò hỏi người chở đò quen mặt:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…