Cuốn Phả Ký Chắn Sóng Dưới Mái Từ Đường
Chương 8: Tiệm Cũ Bến Sông
Nép mình sau rặng râm bụt rậm rạp, Kỷ Du nín thở ghìm chặt lồng ngực đang đập dồn dập. Bàn tay khô ráp nhưng ấm áp của Thúc tổ Kỷ Đức Viễn khẽ đặt lên vai cậu, truyền sang một sự điềm tĩnh lạ kỳ. Trước mắt hai ông cháu, tiếng bước chân nặng trịch của Kỷ Trọng Lễ nện cồm cộp trên thềm đá xanh rồi xa dần về phía bến đò. Chiếc bọc vải đen ghì chặt bên mạn sườn gã cùng hai tên du côn bặm trợn thoắt ẩn thoắt hiện, rồi mất hút sau khúc quanh ngoằn ngoèo rợp bóng tre già.
Lời đe dọa ồm ồm hung bạo dường như vẫn còn vương lại trên những tán lá ẩm ướt hơi sương. Đợi tiếng chửi bới tắt hẳn, cụ Đức Viễn mới khẽ gật đầu, ra hiệu cho Kỷ Du rảo bước tiến về phía cánh liếp gỗ cũ nát.
Cánh liếp khép hờ, kẽo kẹt run rẩy theo từng cơn gió lạnh đầu đông thổi thốc từ mặt sông vào. Kỷ Du nhẹ tay đẩy mép cửa, bước theo sau Thúc tổ vào bên trong. Một luồng không khí ẩm mốc xộc thẳng vào cánh mũi thiếu niên: mùi giấy dó mục rữa quyện với mùi gỗ thị dùng để khắc bản in, ngai ngái thứ dầu lai lau ván và mùi mực than nồng nặc đến tức thở.
Gian nhà tranh vách đất tối lờ mờ, chỉ đón chút ánh sáng bàng bạc le lói qua khe liếp nứt nẻ. Giữa đống giấy vụn và phoi bào vương vãi ngổn ngang dưới sàn nứa, một bóng người già nua lưng còng rạp đang hốt hoảng vơ vét những mảnh ván khắc bị giẫm đạp gãy vụn. Đôi mắt sau cặp kính tròn gọng đồng mài mỏng đùng đục nước, mười đầu ngón tay dính mực đen kịt run rẩy không ngừng.
Nghe tiếng bước chân dẫm lên lớp phoi bào khô rào rạo, Đồ Bản Triệu giật thót mình như chim sợ cành cong. Lão thợ già luống cuống quay ngoắt lại, tưởng bọn tay sai của Nhị phòng đã trở mặt quay gót bức hại. Nhưng khi ngước cặp kính tròn lên, nhìn rõ tấm áo the nâu mộc mạc cùng chòm râu cước trang nghiêm của cụ Kỷ Đức Viễn, rồi nhìn sang Kỷ Du trong bộ đồ tang xám tro, mặt lão Triệu thoắt cái cắt không còn hột máu.
“Cụ... Cụ Trưởng từ...”
Giọng lão nghẹn lại nơi cuống họng. Đồ Bản Triệu vội vã giật lùi về phía mép phản, chân vấp phải chiếc bàn tiện gỗ khiến một con dao trổ rơi “keng” một tiếng buốt óc xuống phiến đá mài góc phản. Lão đảo mắt quanh quất, toan lách người tìm đường trốn ra lối cửa sau thông ra mép rạch:
“Lão... già này không biết gì hết! Lão chẳng có gì để nói cả... Xin cụ lớn tha cho kẻ hèn mọn này!”
Nhìn cảnh tượng tan hoang và nỗi sợ hãi tột cùng của người thợ già, lòng Kỷ Du thắt lại. Cậu nhớ lời Thúc tổ từng dạy về nghĩa thương cứu đói năm Giáp Thìn, khi cha cậu – cố Tộc trưởng Kỷ Thuần Cương – còn đương thời. Ngày ấy, chính kho thóc nghĩa thương dựng từ hoa lợi trăm mẫu tế điền đã cứu sống cả nhà lão Triệu qua cơn bĩ cực. Vậy mà giờ đây, người chịu ơn năm xưa lại lẩn tránh như một kẻ mang trọng tội.
Cụ Đức Viễn không đuổi theo, cũng chẳng hề cất giọng gắt gao. Cụ chỉ chậm rãi bước tới, khom lưng nhặt con dao trổ bằng thép mỏng đặt lại ngay ngắn trên mặt bàn gỗ bám đầy vết mực. Tiếng chuỗi tràng hạt bách xanh trên tay cụ khẽ va vào nhau lách cách, trầm mặc và uy nghiêm.
“Bác Triệu,” cụ Đức Viễn cất giọng trầm ấm, từng tiếng khoan thai như gõ vào lòng người, “lão sang đây không phải để hạch sách hay bắt tội một người thợ già. Lão chỉ dắt cháu Du – con trai của chú Thuần Cương – đến chào bác một tiếng. Chắc bác chưa quên, năm Giáp Thìn đói kém xác xơ, ai đã đội mưa gánh ba đấu thóc của nghĩa thương Kỷ gia lội bùn vào tận căn lều rách mé sông này trao tận tay mẹ con bác?”
Đồ Bản Triệu khựng lại giữa bậu cửa sau. Lưng lão còng rạp xuống, hai vai run bắn lên bần bật. Cụ Đức Viễn thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn ra khoảng sân mờ mịt gió đông:
“Cháu Thuần Cương mất nơi đất khách quê người, linh cữu vừa mới về làng chưa ấm đất. Thế mà mẹ góa con côi ở nhà đã bị người ta rắp tâm bôi nhọ thanh danh, toan tính cướp sạch ruộng tế điền do tổ tiên năm đời gầy dựng. Cháu Du còn thơ dại, mang tiếng oan khiên mạo danh đích tôn. Lão già này bảy mươi hai tuổi rồi, dẫu có đem thân tàn này chắn sóng gió cho cháu, cũng chỉ mong một lời ngay thẳng trước vong linh người đã khuất. Bác nỡ lòng nào để linh hồn người từng cứu mạng mình phải ngậm đắng nuốt cay dưới suối vàng sao?”
Kỷ Du tiến lên một bước, chắp hai tay cung kính nghiêng mình:
“Cháu lạy bác. Cha cháu khi còn sống vẫn thường nhắc bác là người giữ trọn chữ tín trong nghề mực thước. Xin bác thương lấy vong linh cha cháu mà chỉ bảo đôi điều.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…