Đôi Guốc Mộc Cây Vông Nâng Bước Gánh Gồng
Chương 15: Phiên Đối Chất Trước Đình
Nhài siết nhẹ cánh tay quanh tấm lưng nhỏ nhắn của bé Tí, cảm nhận từng nhịp thở ấm áp của con phập phồng nơi lồng ngực. Nghe tiếng trống giục giã dội vào vách đá, lòng nàng thoạt đầu dâng lên nỗi âu lo như sóng cồn bến nước, nhưng khi nhìn theo bóng lưng thẳng tắp của ông nội phía trước, sự run rẩy trong nàng dần lắng xuống. Hai ông cháu cùng thằng Cò rảo bước qua lớp sương mai đang tan dần trên bãi cỏ, tiến thẳng vào cổng đình làng Bãi Dâu.
Gian chính của ngôi đình thâm nghiêm phủ màu rêu phong cổ kính, khói nhang trầm bảng lảng quyện lấy mùi chè mạn đặc sánh. Phía trên sập gụ, quan tri huyện đương thời ngồi nghiêm nghị bên án thư, bên cạnh đặt chiếc tráp đồng đựng công văn và nghiên mực đen nhánh. Dưới hàng cột cái bằng gỗ lim to một người ôm, bà Nghị Phan đã an tọa tự bao giờ trên chiếc ghế trắc bọc nệm gấm điều. Gương mặt béo tròn đẫy đà của bà ta trát phấn trắng bệch, khóe môi nhai trầu đỏ quạch khẽ nhếch lên, ném về phía mẹ con Nhài một cái nhìn khinh bạc đến tận cùng. Ngay cạnh bà ta, viên lý trưởng xun xoe châm đóm, còn gã thầy cãi mặc áo dài the đen bóng lộn đang vuốt chòm râu dê lưa thưa, đôi mắt ti hí đảo qua đảo lại đầy vẻ giảo hoạt.
Bé Tí thấy người lạ mặt dữ dằn liền sợ hãi rúc đầu sâu vào cổ mẹ. Nhài vỗ nhè nhẹ lên lưng con, bước chân đi trên đôi guốc mộc gỗ vông êm ru vững chãi, không hề phát ra một tiếng va đập thô kệch nào trên nền gạch tàu lạnh buốt.
Viên tri huyện gõ nhẹ chiếc thước gỗ xuống mặt bàn, cất giọng trầm đục: “Nguyên cáo và bị cáo đã có mặt đông đủ. Hôm nay mở phiên phân xử đơn kiện của họ Phan làng Kim Long về việc tranh chấp quyền nuôi dưỡng cháu Bế Văn An, tức Phan Văn An. Thầy cãi đại diện họ Phan, hãy trình bày cớ sự!”
Gã thầy cãi áo the đen lập tức đứng bật dậy, chắp hai tay cúi rạp người trước án công đường rồi xoay phắt lại, chĩa thẳng ngón tay khẳng khiu về phía Nhài: “Bẩm quan lớn đèn trời soi xét! Nhà họ Phan vốn dòng dõi vọng tộc chốn kinh kỳ, gia quy nghiêm cẩn, nhiều đời tích đức phụng thờ tổ tiên. Trái lại, ả Bế Thị Nhài đây chỉ là phận dâu góa bụa thất học, quanh năm nheo nhóc nơi căn chòi rách nát bến sông ngập lụt. Thử hỏi một mái nhà xiêu vẹo, gạo chạy từng bữa, manh áo rách chắp vá chằng đụp thì lấy chi nuôi dạy đích tôn của dòng họ nên người? Nếu để đứa trẻ lưu lạc nơi xóm thợ mạt rệp, mai này ắt thành kẻ thất phu vô lại, làm ô danh hương hỏa tiên linh. Chi bằng giao trả cháu bé về phủ Kim Long để bà lớn chu cấp học hành, đó mới vẹn cả đạo trời lẫn lẽ đời!”
Bà Nghị Phan phe phẩy chiếc quạt the cán ngà, bồi thêm giọng the thé chát chúa: “Quan lớn chứng giám, thứ tiện tỳ nghèo kiết xác thì biết chi lễ nghĩa gia phong! Giữ rịt đứa nhỏ chỉ tổ làm khổ giọt máu dòng dõi nhà ta!”
Từng lời mạt sát độc địa như mũi kim châm vào da thịt, nhưng lạ thay, Nhài không còn thấy sợ hãi như những ngày trước. Bàn tay nàng thôi run rẩy. Nàng ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào cặp mắt trừng trừng của bà Nghị. Tấm lòng người mẹ trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết; nàng hiểu rằng nếu hôm nay mình lùi một bước, con trai nàng sẽ vĩnh viễn rơi vào cảnh ghẻ lạnh, chịu phận làm bia đỡ hương hỏa trong cái phủ đệ lạnh tanh nghiệt ngã ấy.
Nhài khẽ đặt bé Tí xuống bên cạnh cụ Nam, để bàn tay gầy gò ấm áp của ông giữ lấy vai chắt nhỏ. Nàng bước lên hai bước, đứng ngay ngắn giữa gian đình, chắp tay đoan trang vái lạy quan tri huyện: “Bẩm quan lớn! Lời thầy cãi họ Phan nói hoàn toàn sai sự thật, cốt dìm mẹ con con vào chỗ khốn cùng để đoạt lấy đứa trẻ!”
Tiếng nói của nàng cất lên trong trẻo, dõng dạc và rành mạch vang khắp nóc đình, khiến viên lý trưởng giật mình nheo mắt nhìn.
“Từ ngày nhà con không may qua đời,” Nhài cất giọng kiên định, “Một tay con gánh gồng chắt chiu nuôi nấng con thơ, phụng dưỡng ông nội già yếu, chưa từng ngửa tay xin xỏ họ Phan dẫu chỉ một hạt gạo hay một đồng kẽm. Họ Phan chê nhà con nghèo hèn, nhưng mẹ con con ăn hạt cơm trong sạch từ mồ hôi nước mắt lao động, không trộm cắp, không làm điều khuất tất.”
Nói rồi, Nhài mở tay nải bằng vải nâu mang bên mình, cẩn thận lấy ra cuốn sổ cái đóng bằng giấy bổi dày dặn, hai tay dâng lên trước mặt viên lại dịch: “Bẩm quan lớn đèn trời thấu tỏ! Đây là sổ sách thu chi của xưởng mộc Bế Ký do chính tay con ghi chép mỗi ngày. Mới tuần trước, dưới sự làm chứng của hương chức Bãi Dâu, nhà con đã thanh toán sòng phẳng món tiền năm mươi đồng bạc Đông Dương mà họ Phan đòi hỏi. Hiện tại, trong tráp xưởng con vẫn còn nguyên hơn mười hai đồng bạc Đông Dương, cùng nhiều hào bạc và tiền kẽm của bạn hàng khắp bến Thừa Phủ, chợ Đông Ba đặt cọc. Mỗi ngày bán guốc, trừ tiền mua gỗ mua sơn, con vẫn tích lũy được vài hào bạc trắng. Một hào mua được cả mớ cá tươi cùng bát gạo trắng thơm, con con luôn no ấm, áo vá nhưng sạch sẽ lành lặn. Con có nghề làm guốc mộc, có cơ nghiệp tổ tiên để lại nuôi con khôn lớn đàng hoàng, cớ sao lại bảo con để con mình đói rách?”
Viên tri huyện đón lấy cuốn sổ bổi, mở từng trang lật xem. Từng dòng chữ ngay ngắn, từng khoản thu chi từ tiền mua gỗ vông, tiền cao su, tiền bán guốc cho người buôn rau, người gánh bún đều được ghi rành mạch, chuẩn xác từng xu từng hào.
Gã thầy cãi chột dạ, vội xua tay cướp lời: “Bẩm quan lớn, dăm ba tờ giấy bổi viết nhảm của đàn bà xóm vạn đò thì làm sao tin được…”
“Ai bảo không tin được!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…