Đòn Gánh Tre Đực Uốn Cong Sóng Gió Lăng Gia
Chương 11: Bàn Tay Nắn Cột Khói
Tiếng móng ngựa nện xuống nền đường đất khô khốc xa dần, bỏ lại sau lưng làn bụi mỏng cuộn tròn trong ráng chiều đỏ quạch. Đám thợ trẻ đứng trên bờ đầm bùn ngơ ngác nhìn nhau, tiếng hò reo vừa cất lên bỗng chốc ngưng bặt. Vài người buông lỏng sợi dây thừng, đưa mắt hoang mang nhìn về phía rặng cây rậm rạp nơi bóng kẻ lạ mặt vừa mất hút.
Cụ Lăng Đình Khiêm vẫn đứng sừng sững bên mép nước, chiếc đòn gánh tre đực trăm năm tì nhẹ nơi đầu ngón chân. Cụ đưa tay vuốt chòm râu cước, ánh mắt trầm tĩnh không gợn chút kinh động:
“Việc của kẻ rình mò là chạy đi báo tin, còn việc của người họ Lăng ta là giữ chắc mớ tre này. Hơi đâu mà ngẩn ngơ nhìn bụi đường? Trọng Tấn, hô hào anh em kéo xe bò lại đây, vần hết số tre đực già này về sân phơi xưởng chính trước khi trời sập tối!”
Tiếng cụ sang sảng như tiếng chuông đồng rền vang qua mặt đầm, xua tan ngay nỗi bất an vừa nhen nhóm. Lăng Trọng Tấn bừng tỉnh, dằn giọng thúc giục tốp thợ:
“Nghe lời cụ tổ! Mau vần tre lên xe, bốn người một cây, cẩn thận kẻo xước lớp cật ngoài!”
Từng thân tre đực đen bóng, nặng trịch được chuyền tay nhau đưa lên xe bò và cáng gỗ. Dòng người hối hả xuôi theo lối mòn đồi đất đỏ trở về trang viên. Cụ Khiêm sải bước chậm rãi bên cạnh xe chở tre, đôi mắt tinh tường quan sát từng ngả rẽ dẫn ra bến sông. Vừa bước chân vào cổng gạch, cụ đã ngoắc Trọng Tấn và Hoài Nam lại bên giếng thưng đá:
“Trọng Tấn, con chọn ra mười thợ lành nghề, chia nhau cùng tuần đinh cắt cử người canh gác bốn góc xưởng cả ngày lẫn đêm. Bến sông hay ngõ sau đều phải có người túc trực, hễ thấy bóng người lạ lảng vảng lập tức gõ mõ báo hiệu.”
Trọng Tấn chắp tay cung kính:
“Dạ, thưa cụ tổ, con xin làm ngay.”
Cụ Khiêm quay sang Hoài Nam. Nhìn bả vai trái của chàng chắt còn quấn lớp vải thô thấm thuốc dán, cánh tay buông thõng gượng gạo bên hông, cụ dịu giọng nhưng sắc sảo:
“Thằng Nam, vai đau chưa vác nặng được thì lo việc này cho lão. Bảo mấy đứa nhỏ gom hết trấu khô, rơm ướt và vỏ bổi xếp dọc theo chân rào tre quanh trang viên. Đốt hun khói mù mịt lên cho lão. Khói rơm quyện vỏ bổi vừa xua muỗi dĩn mùa này, vừa che kín tai mắt phường dòm ngó từ bờ sông. Bàn tay giấu sau cột khói thì chẳng đứa nào ngoài ngõ biết ta đang làm gì trong sân.”
Hoài Nam ngẩng đầu, đôi mắt rực sáng vẻ khâm phục:
“Chắt hiểu rồi ạ! Khói dày thế này thì đứng từ thuyền buôn ngoài sông có căng mắt ra cũng chẳng dò nổi xưởng ta vớt được bao nhiêu tre.”
Nói rồi, Hoài Nam vội vã chạy đi chỉ huy đám thiếu niên chất trấu hun khói. Chẳng mấy chốc, những cột khói xám nhạt bắt đầu cuộn tròn bốc lên từ bốn góc rào tre, la đà ôm lấy từng mái ngói cổ, biến cả trang viên họ Lăng thành một ốc đảo mờ ảo giữa sương chiều giáp hạt.
Giữa khoảng sân gạch thênh thang, hơn ba ngàn thân tre đực già vừa đưa về nằm ngay ngắn thành từng lớp. Bùn đen từ đầm cổ bám chặt thành một lớp vỏ dày, khô quắt lại, bốc lên mùi ngai ngái nồng nàn của đất sâu ba mươi năm.
Cụ Khiêm xắn cao ống tay áo nâu sồng, bước lại gần bể nước mưa lớn đầu hồi. Cụ cúi xuống cầm lấy chiếc xơ mướp già và nắm lá duối ráp, nhúng vào chậu nước rồi bước tới bên một thân tre to bằng bắp chân người lớn.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…