Dưới Chân Cọc Tiêu Sóng Cuộn Vàm Đêm
Chương 20: Tạc Lại Thần Mộc
Luồng hơi ấm dịu dàng từ chiếc tiểu sành dần lan tỏa khắp lồng ngực Bá Khiêm, xua tan hoàn toàn cái buốt lạnh dai dẳng của đáy sông sâu. Sáng sớm hôm sau, khi màn sương mỏng trên sông Tiền vừa tan bớt dưới ánh bình minh đỏ ối, tiếng còi tàu tuần tra của Cảnh sát đường thủy rúc lên một hồi trầm ấm mé bến miếu Bà Cậu.
Chiếc tàu sắt áp sát bờ cồn Cát Lở. Dưới sự điều động của Đại úy Trần Tuấn, bốn chiến sĩ cẩn trọng khiêng chiếc cọc mộc tiêu số bảy từ khoang tàu lên khoảng sân gạch rợp bóng cây bồ đề. Thân cọc gỗ mun đen nhánh, dài hơn hai sải tay, được đặt trang trọng lên hai chiếc ghế gỗ dài trước hương án. Đại diện chính quyền xã Bình Thạnh cùng ban quản tự miếu Bà Cậu đã túc trực sẵn sàng ký vào biên bản bàn giao tang vật, chính thức trao trả cây mộc tiêu trăm năm về lại cho sông nước và nhân dân.
Đại úy Tuấn bước tới, nghiêng mình chào các bô lão rồi quay sang Bá Khiêm:
“Báo cáo chú Ba và bà con, chuyên án đã hoàn tất phần chứng cứ khởi tố băng Bảy Càng. Chiếc cọc gỗ mun này là di vật lịch sử thiêng liêng, nay cơ quan chức năng chính thức bàn giao để chính quyền và bà con phục dựng lại cọc tiêu luồng lạch, vừa định vị luồng tàu bè, vừa giữ an bình cho bà con xóm vạn đò.”
Bá Khiêm khẽ gật đầu, đưa bàn tay thô ráp sờ dọc thân gỗ mun:
“Cảm ơn chú Tuấn cùng anh em chiến sĩ. Có lại cọc tiêu, dòng sông mới mong yên sóng.”
Đại úy Tuấn chào bà con rồi cùng cán bộ xã vào gian phụ hoàn tất thủ tục giấy tờ. Trên sân miếu, Bá Khiêm cúi sát người quan sát kỹ từng tấc gỗ. Dù là loại mun sừng thượng hạng chìm dưới bùn hơn trăm năm không mục, nhưng vết tích bạo tàn của vòi rồng hút cát và xích sắt bùa chú vẫn in hằn nham nhở. Nhiều chỗ vỏ ngoài bị xé toạc, lộ ra những vết khuyết sâu hoắm, thân cọc có chỗ nứt dăm do va đập dữ dội trong đêm giông bão.
“Thân cọc sứt mẻ thế này, nếu đem cắm lại ngay xuống rốn xoáy sâu ba mươi hai sải tay, áp lực con nước ròng và xoáy dữ sẽ bẻ gãy liền,” ông Ba Thợ Mộc, một thợ mộc đóng ghe lão thành của cù lao, vừa nheo mắt ngắm nghía vừa chép miệng.
Bà Tư Hạt miệng bỏm bẻm nhai trầu, từ trong điện thờ bước ra, giọng rầu rầu cất lên:
“Xưa kia triều đình chọn gỗ mun làm lõi mộc tiêu vì tính nó trầm mặc, nặng tựa đá tảng để giữ long mạch. Nay thân mun đã chịu thương tích cứu mạng khúc sông, ta phải tìm loài cây lành bọc lấy nó, như con cháu đùm bọc lấy tổ tiên vậy.”
Bá Khiêm trầm ngâm giây lát rồi vỗ mạnh vào đùi:
“Phải dùng gỗ tràm cổ thụ! Tràm đất bưng cù lao mình sống dưới sình lầy cả trăm năm, ngâm nước càng lâu thớ càng đanh quánh như sừng, chống hà ăn, chịu sóng dập số một. Ta sẽ xẻ đôi thân tràm già, khoét rỗng bộng trong ôm khít lấy thân cọc mun, đóng chốt gỗ liên hoàn gia cố. Bên trong là mun thiêng trấn mạch, bên ngoài là tràm cổ chịu lực.”
Ý kiến vừa đưa ra liền được các bô lão đồng thanh tán thưởng. Không ai bảo ai, thanh niên xóm vạn đò rầm rộ kéo nhau về phía bưng biền sau cồn Cát Lở. Chỉ nửa ngày sau, một cây tràm cổ thụ trăm năm tuổi, thân to hai người ôm, thớ gỗ đỏ au như mật mía đã được đốn hạ, tước vỏ sạch sẽ và đưa về sân miếu.
Dưới sự chỉ dẫn của ông Ba Thợ Mộc, những cưa tay, búa rìu thi nhau gọt đẽo. Thân tràm được xẻ làm đôi, bạt phẳng mặt ngoài và đục rỗng lòng ruột tạo thành chiếc áo giáp mộc vững chãi ôm khít rịt thân cọc mun cổ.
Khi hai nửa thân tràm đã khép kín lấy lõi mun, nhiệm vụ quan trọng nhất bắt đầu. Bà Tư Hạt mang tấm bản đồ cổ vẽ chín cọc mộc tiêu cùng cuốn gia phả cũ của tiền hiền ra trải trên chiếc chiếu cói. Từng dòng chữ Nho cổ ghi chú trấn thủy và danh tánh các bậc tiền nhân mở cõi được bà tỉ mỉ chỉ dẫn.
Bá Khiêm rửa tay bằng thau nước ngũ vị hương tinh sạch, quỳ một gối bên thân gỗ sẫm màu. Ông cầm chiếc đục sắt tôi kỹ bằng thép nguội, tay kia nắm chiếc vồ gỗ nghiến chắc nịch.
“Cộc… cộc… cộc…”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…