Dưới Chân Cọc Tiêu Sóng Cuộn Vàm Đêm
Chương 4: Ký Ức Phu Mở Cõi
Bá Khiêm đặt bàn tay chai sần lên bả vai đang run bần bật của Nhâm. Thằng nhỏ nghiến chặt răng, lồng ngực phập phồng uất nghẹn. Ông hiểu nỗi căm hận đang cào xé tâm can đứa đệ tử; năm năm ròng rã mồ côi cha, vết thương lòng của nó nay bất thần bị chiếc bật lửa đồng khơi bung đau nhức.
“Bình tĩnh lại mày,” Bá Khiêm ghìm chặt vai đệ tử. “Nợ máu của cha mày, sớm muộn gì lưới trời cũng bắt quân gian đền tội. Đừng nóng vội đâm đầu vô chỗ chết. Đất cồn vừa sụp, lòng sông đang động, việc trước mắt là sang miếu Bà Cậu tạ lễ hà bá, cầu an cho xóm đò.”
Ông đón lấy chiếc bật lửa bằng đồng thau nặng trịch, dùng khăn rằn bọc kín rồi cất sâu vào túi áo bà ba. Thằng Nhâm nuốt khan ngụm nước bọt, gạt giọt lệ căm hờn nơi khóe mi rồi lặng lẽ theo chân thầy về chòi dọn lễ.
Nửa giờ sau, hai thầy trò men theo con đường đất đỏ rảo bước ra mũi cồn Cát Lở. Bá Khiêm xách giỏ tre đựng nải chuối xiêm chín bói, đĩa trầu cau tươi và xấp giấy tiền vàng bạc. Gió chướng từ ngã ba sông thổi rười rượi, mang theo mùi phù sa sạt lở và hơi lạnh ngắt xộc thẳng vào khoang mũi.
Miếu Bà Cậu nằm chênh vênh nơi chót mũi cồn, nép dưới tàn cây da cổ thụ rủ chùm rễ dài chấm mặt nước. Mái ngói âm dương phủ kín rêu phong xám xịt, góc đao chạm rồng đã sứt mẻ theo năm tháng. Khói nhang từ chiếc lư đồng trước sân bảng lảng bay ra, quyện vào sương sớm tạo nên bầu không khí u tịch đến lạnh người.
Dưới bóng râm, một bóng hình còng queo đang cặm cụi quét lá rụng. Đó là bà Tư Hạt, năm nay bảy mươi lăm tuổi, tóc bạc trắng như bông bần quấn sau gáy, tấm lưng còng gập xuống như nhánh bần de mé rạch. Đôi tay gầy guộc nổi đầy đồi mồi của bà run rẩy đưa từng nhát chổi tre sàn sạt trên nền gạch tàu.
“Bà Tư,” Bá Khiêm cất tiếng gọi trầm ấm.
Bà Tư Hạt dừng chổi, ngẩng khuôn mặt nhăn nheo lên nhìn. Miệng bà bỏm bẻm nhai trầu đỏ quạch, đôi mắt đùng đục phủ màng mờ ảo nhưng dường như thấu suốt tâm can người khác. Bà thở dài rầu rầu:
“Thầy trò bây tới rồi đó hả Khiêm? Đêm qua vàm dậy sóng, sáng nay đất cồn sụp lở dữ quá chừng... Già này ngồi trong miếu mà nghe tiếng đất rên xiết, ruột gan thắt lại từng cơn.”
“Dạ thưa bà, con mang chút lễ mọn sang tạ lỗi hà bá và cầu bình an cho xóm vạn đò,” Bá Khiêm kính cẩn thưa.
Ông bước vào chánh điện, đặt lễ vật lên bàn thờ Bà Cậu, châm ba nén nhang cắm vào lư đồng. Khói trầm nghi ngút che mờ những pho tượng cổ kính. Bá Khiêm sụp lạy ba lạy, thầm khấn nguyện xin thần linh che chở xóm đò qua cơn hoạn nạn. Thằng Nhâm đứng nép sau lưng ông, chắp tay trang nghiêm.
Hành lễ xong, bà Tư Hạt chống gậy tầm vông bước tới, nhổ bãi trầu vào chiếc ống nhổ bằng đồng nơi góc cột. Ánh mắt bà lướt qua vẻ ưu tư của Bá Khiêm rồi dừng lại rất lâu trên ngực áo ông – nơi cất giấu chiếc bật lửa.
“Bây theo già vô gian hậu,” bà Tư khẽ nói rồi quay người đi trước.
Gian thờ hậu tối tăm, chỉ có ngọn đèn dầu hỏa leo lét tỏa ánh sáng vàng vọt tù mù, phảng phất mùi gỗ mục và khói trầm. Trên vách gỗ mun phía sau án thờ, một bức hoành phi cổ phủ bụi hiện ra. Bốn chữ Hán thếp vàng đã phai nhạt, nhưng nét chạm khắc vẫn toát lên vẻ uy nghiêm.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…