Hộp Đồ Rèn Xẻng Bới Đất Đánh Thức Cây Nguyệt Quế
Chương 15: Mũi Xẻng Dẫn Mạch
Gió đêm từ sườn núi thốc xuống mang theo hơi buốt của sương muối, thổi tạt vạt áo chàm đượm mùi đất của Cáp Vĩnh Trình. Lão khẽ gạt lời giục giã lo lắng của Trưởng trấn Liễu Tùng Chu, bước từng sải chân dẻo dai trở về quán rèn Đất Bồi nép bên bờ kênh cạn. Cơn đau nhức từ hai bàn tay nứt nẻ, quấn chằng chịt những lớp vải thô thấm đỏ, vẫn không ngăn nổi ánh mắt lão rực sáng khi nhìn về phía bễ than.
Bảy ngày ngắn ngủi cho một mùa trăng sinh tử. Lão không có lấy một khắc để ngơi nghỉ. Vừa bước qua bậu cửa gỗ táu quen thuộc, cụ Trình đã tháo mảnh thép gãy một tấc của chiếc xẻng Tơi Căn ra khỏi túi áo, đặt cẩn thận lên mặt đe sắt.
— Tiểu Miên, kéo bễ nhen than cho ông! — Cụ cất giọng trầm ấm, vẻ mệt mỏi dường như tan biến.
— Dạ! — Cô bé đáp lanh lảnh, đôi tay nhanh thoăn thoắt châm đóm bùi nhùi, giật dây bễ da bò. Ngọn lửa đỏ rực bừng lên xua tan cái lạnh ẩm ướt của gian quán nhỏ.
Cụ Trình bước tới vách lò phía trong cùng, nơi những mảng vảy sắt bám kết suốt cả trăm năm qua bao mùa đập búa. Lão dùng mũi đục gõ nhẹ, cẩn thận bóc tách từng mảng vảy sắt già cỗi màu xám chì, gom trọn vào chiếc thúng cói. Thứ sắt tích tụ qua muôn ngàn lần tôi luyện lửa củi này dẻo dai lạ thường, không còn tạp chất hung bạo. Lão phối mớ vảy sắt ấy cùng quặng sắt dẻo màu gan gà vớt nơi lòng suối cạn, thứ kim loại mềm đượm khí nước của thung lũng Nguyệt Ảnh.
Tiểu Miên miệt mài giật cần kéo bễ, mái tóc tết dính bết bụi than. Từng giọt mồ hôi lăn dài trên gò má lấm tấm tàn nhang, rớt xuống mặt đe nóng rẫy kêu xèo xèo. Cô bé vừa lau trán vừa nhìn cụ Trình, khẽ thầm thì:
— Ông ơi, lúc nãy cháu nghe bà con trên gò bảo nhau, dân làng đang quỳ cầu khấn dưới gốc cây đông lắm. Họ mang cả nước suối ngọt và bánh ngô lên cúng thần mộc, chẳng còn ai ngó ngàng hay tin vào mấy dải bùa chú vẽ mực đỏ của người trên Đỉnh Mây Mù nữa đâu.
Cụ Trình khẽ gật đầu, lòng dâng lên niềm ấm áp bình dị. Lão gắp khối phôi thép vừa ửng hồng như ánh ráng chiều đặt lên đe. Dẫu hai lòng bàn tay rách toạc quấn vải thô nhói buốt từng cơn, cụ vẫn ghì chặt chuôi búa gỗ nghiến, vung lên từng nhát dứt khoát.
“Keng! Keng! Boong…”
Tiếng búa rộn rã cất nhịp quen thuộc trong đêm vắng. Lần này, lão không đúc lưỡi phẳng rộng như xẻng Thấu Thổ, cũng chẳng uốn mũi khoằm mỏng mảnh như xẻng Tơi Căn. Dưới từng cú nện chuẩn xác của người thợ trăm tuổi, thân thép dần dài ra ba thước, sống lưng dày dặn hình cung vững chãi. Độc đáo nhất là mặt trong của xẻng được lão tỉ mỉ gõ lượn thành một lòng máng uốn rãnh xoắn ốc tựa như dòng suối nhỏ chảy quanh khe đá, đầu mũi thuôn nhọn thanh thoát tựa búp sen hé nở. Đó chính là chiếc xẻng thứ ba – xẻng Dẫn Mạch, kết tinh của cả đời bách nghệ làm vườn.
Bỗng nhiên, một luồng gió lạnh luồn qua khe liếp. Cánh cửa liếp khẽ lay động, một bóng người cao gầy lặng lẽ bước vào gian quán rèn ngổn ngang.
Tiểu Miên giật thót mình dừng tay bễ, toan kêu lên thì cụ Trình đã đưa mắt ra hiệu ngăn lại.
Đứng trước ánh lửa bập bùng là Bách Lý Hạo. Vị tu sĩ của Thiên Linh Các không còn khoác vẻ ngạo nghễ thường nhật, tà đạo bào màu nguyệt bạch lấm lem bụi đất và tàn tro rơm rạ. Tay gã không còn cầm phất trần lông hạc kiêu hãnh, ánh mắt thẫn thờ dán chặt vào đôi bàn tay quấn vải thô đẫm máu của lão thợ già phàm nhân đang bặm môi giữ chặt thỏi thép nóng. Cụ Trình nhìn rõ trong đôi mắt người tu sĩ kia sự hổ thẹn, day dứt cùng nỗi chấn động khôn xiết sau những gì gã tận mắt chứng kiến trên gò đất.
Gian quán im ắng lạ thường, chỉ còn tiếng than nổ lách tách. Cụ Trình khẽ đặt chiếc búa xuống mặt đe, không hề buông lời xua đuổi hay mỉa mai. Lão với tay lấy chiếc ấm đất nung bên cạnh bếp lò, rót một bát nước còn nghi ngút khói đưa về phía vị khách không mời:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…