Hộp Đồ Rèn Xẻng Bới Đất Đánh Thức Cây Nguyệt Quế

Chương 3: Đốm Lửa Đáy Bễ Rèn

Cụ Trình cúi nhặt cán cuốc gãy dưới chân Lão Quế rồi lặng lẽ giắt vào lưng quần. Màn sương buốt giá của thung lũng Nguyệt Ảnh bám ướt chỏm râu bạc, nhưng ngực cụ vẫn âm ỉ một khối nhiệt nồng. Rời gò đất vắng vẻ, cụ rảo bước thật nhanh men theo bờ kênh cạn dẫn về quán rèn Đất Bồi.

Vừa đẩy cánh liếp xưởng rèn, cụ đã thấy Tiểu Miên ngồi co ro bên bậc cửa gỗ táu, hai bàn tay áp chặt vào tai để xua đi tiếng rên xiết u uất dội lên từ nền đất nện. Thấy bóng dáng quen thuộc của cụ, con bé vội đứng bật dậy:

— Ông Trình! Lưỡi cuốc… không ăn thua thật sao ông?

Cụ Trình đặt đoạn cán tre cùng chiếc lưỡi mẻ vỡ lên đe, khẽ thở dài:

— Sắt thường chạm vào quặng cặn liền sứt mẻ, chẳng mảy may lay chuyển. Đất đã ngậm chặt bùa chú của tiên gia thì chỉ có thứ nông cụ sinh ra từ đất mới gỡ nổi. Miên, dọn bễ lò đi. Đêm nay ông nổi lửa.

Tiểu Miên ngước nhìn lò rèn đã nguội ngắt suốt mười ngày qua vì khô hạn, mắt con bé sáng bừng lên nét mừng rỡ xen lẫn âu lo. Nó lập tức chạy tới góc bếp, dùng chổi rễ quét sạch bụi bặm quanh miệng lò. Cụ Trình bước chầm chậm lại cạnh bệ nung, châm ngọn bùi nhùi đã bén lửa vào nắm dăm thông khô. Một đốm lửa vàng le lói bùng lên, nhanh chóng liếm vào những thanh than củi nghiến đượm chắc.

Cụ Trình không vội gắp quặng mới. Cụ ngồi thụp xuống trước lòng bễ rèn, dùng chiếc muôi sắt cán dài cẩn thận cào từng lớp xỉ đen bên trên sang một bên. Tận sâu dưới đáy bễ, nơi tích tụ hơi nóng và bụi bặm qua hơn một trăm năm gõ búa, là một lớp vảy sắt màu xám bạc mịn màng. Đó là tinh hoa bong tróc từ hàng vạn nhát búa bồi đắp cuốc xẻng cho bà con lối xóm, sớm tối tắm mình trong khói than và khí đất điền viên. Cụ Trình xòe hai bàn tay to bản chằng chịt sẹo nhiệt, kính cẩn vốc từng vốc vảy sắt trăm năm cho vào chiếc máng đồng.

Đôi mắt đục mờ của lão thợ rèn một trăm bảy mươi hai tuổi lấp lánh vẻ say mê lạ thường khi ngón tay thô ráp miết nhẹ từng hạt vảy mịn:

— Vảy sắt này đã no hơi búa, quen thói bùn lầy, mang tính nết của đất. Đem nó phối cùng quặng sắt đồng nội thì lưỡi xẻng mới dẻo mà bền, cắm sâu xuống đất mà không gãy gập.

Cụ đem chỗ vảy sắt trộn đều với nửa thúng quặng sắt nâu sẫm vừa đào ở sườn đồi hôm trước, rồi đổ tất cả vào lòng lò đang đỏ rực. Cụ quay sang bảo con bé:

— Miên, nắm cần bễ kéo đều tay cho ông. Nhớ giữ nhịp thở, không nhanh không chậm, để ngọn lửa ôm trọn thỏi thép. Rồi ra góc vườn gom cho ông hai thúng tro rơm nếp mục phơi từ vụ trước, múc thêm thùng nước ngâm rễ cỏ tranh và vỏ ổi rừng đem vào đây.

— Dạ, con nhớ rồi!

Tiểu Miên reo khẽ, hai tay thoăn thoắt nắm lấy cần bễ bằng gỗ nghiến. Tiếng bễ rèn rít lên từng hồi “phì phò, phì phò” nhịp nhàng, thổi bùng luồng gió nuôi ngọn lửa than đỏ rực rồi chuyển dần sang sắc trắng xanh chói lọi. Mồ hôi bắt đầu tẩm ướt trán con bé, nhưng ánh mắt nó không rời đốm lửa bập bùng. Lát sau, nó nhanh nhẹn chạy ra chái hiên sau, mang vào thúng tro rơm nếp mục đen kịt, xốp mịn và thơm mùi đồng bãi. Nó đổ tro vào thùng nước ngâm rễ thảo mộc lâu năm, khuấy đều tay cho tới khi bốc lên thứ nước tôi thép màu nâu cánh gián, đặc sánh và ngan ngát vị chát mộc mạc.

Hơi nóng từ lò rèn cuồn cuộn phả ra, xua tan cái lạnh lẽo hoang tàn đang bao trùm xóm nhỏ. Giữa đêm khuya thanh vắng, ánh lửa đỏ rực hắt qua khe liếp chiếu sáng cả một khúc lòng kênh trơ sỏi đá.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Khánh My
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Khánh My

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…