Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa

Chương 10: Ngọn cờ Phù Sa Xanh

Đó là tía Ba Sang!

Người đàn ông cả đời gắn trọn cuộc sống với từng gốc bưởi cù lao, người vừa mới vài khắc trước còn nằm mê man trên chiếc chõng tre vì cơn đau cột sống hành hạ đến kiệt cùng sinh lực, nay đang đứng sừng sững ngay trước mặt Năm Lợi. Lưng ông còng rạp vì năm tháng cày cuốc, một tay chống chặt cây gậy tre đực già mốc meo xuống nền đất cát nứt nẻ, nhưng bàn tay còn lại thì quặp chặt lấy cổ tay ngấn mỡ của tên lái buôn như một gọng kìm tôi bằng thép nguội. Dưới lớp da đồi mồi chằng chịt gân xanh, từng thớ thịt của ông Ba cuộn lên với một sức mạnh phẫn nộ khôn lường.

Năm Lợi đau thấu xương tủy, mặt mày nhăn nhúm lại, lắp bắp:

“Ông… ông Ba Sang! Buông… buông tay ra! Điên rồi hả ông già? Tính hành hung người ta giữa thanh thiên bạch nhật hả?”

“Tao già, nhưng tao chưa có mù, chưa có điếc!” Giọng ông Ba Sang khàn đặc nhưng rền vang như tiếng sấm đầu mùa trên vàm sông Tiền. “Tao nằm trong nhà, tao nghe hết trơn hết trọi những lời thất đức của mày! Mày dắt mối cho tụi xứ lạ về đây cướp đất tổ phụ, mày ép bà con cô bác bước vô đường cùng, giờ mày còn tính sai thằng lưu manh kia chọi đá phá máy của sắp nhỏ hả Năm Lợi?”

Tú chết lặng trong giây lát, lồng ngực thắt nghẹn lại khi thấy tía mình. Mồ hôi lạnh rịn ướt đẫm vầng trán nhăn nheo của ông, bờ môi tái nhợt vì cơn đau buốt dọc sống lưng, nhưng đôi mắt ông thì sáng rực một ngọn lửa kiêu hãnh và quật cường.

“Tía!” Tú lao vội tới, toan đỡ lấy cánh tay gầy guộc của ông.

Nhưng ông Ba Sang khẽ gạt tay con gái ra. Ông dồn hết trọng lực lên cây gậy tre, ngực phập phồng, quét ánh mắt quắc thước sang tên đàn em của Năm Lợi đang lấm lét giấu cục đá sau lưng, rồi gằn từng tiếng rành rọt vào mặt Năm Lợi:

“Đất cù lao An Bình này từ đời ông cố nội tao khai hoang, tới đời tao đổ biết bao nhiêu thau mồ hôi, bao nhiêu lít máu mới thuần được con nước ngọt, gầy nên rặng bưởi ruột hồng trứ danh phương Nam! Tụi tao thà để bưởi chết khô, thà chặt nhánh làm củi chớ dứt khoát không đời nào bán rẻ một tấc đất cho phường bất lương chúng bay!”

Ông buông tay Năm Lợi ra cái phắt, khiến gã loạng choạng thụt lùi ba bước, va cả mông vào chiếc bàn nhựa. Ông Ba quay mặt về phía đám đông bà con lối xóm, lồng ngực rung lên từng nhịp xúc động:

“Bà con cô bác ngó coi! Con gái tía con tôi, thằng Thái bên xưởng máy, tụi nó học đại học ở xứ người về, tụi nó không màng sung sướng nơi phố thị mà lặn lội về đây thức trắng đêm rách da xé thịt để chế máy lọc nước mặn cứu vườn. Sắp nhỏ có chữ nghĩa, có khoa học, có cái tâm với đất đai sông nước! Ruột thịt một cồn một bãi không tin, hà cớ gì lại đi tin lời đường mật của phường buôn gian bán lận?”

Lời ông Ba Sang dứt khoát như chặt sắt chém đinh. Sự xuất hiện bất ngờ của người nông dân già cả đời cương trực như một giọt nước tràn ly, đánh thức toàn bộ lòng tự trọng và sự thức tỉnh của cả xóm vườn.

Tên đàn em của Năm Lợi thấy biến, hoảng hốt toan lách người ném cục đá trong tay vào buồng bơm cao áp thì Đực Nhỏ đã nhanh như cắt lao tới. Thằng nhỏ nhảy phắt qua mép mương, bẻ quặt cổ tay tên côn đồ khiến cục đá rơi bịch xuống bãi cỏ.

“Mày mần cái trò gì đó hả thằng mặt giặc?” Đực Nhỏ quát thét, mắt đỏ ngầu. “Định phá máy cứu mạng của dân làng hả mậy?”

Mấy chục thanh niên trai tráng và các lão nông trong cồn lập tức ùa tới, vây kín lấy Năm Lợi và hai tên lâu la. Tiếng gậy gộc gõ chan chát, tiếng bước chân rầm rập trên đất phù sa khô khốc. Khí thế bừng bừng như một trận cuồng phong trỗi dậy từ đáy lòng những con người bị dồn nén đến tận chân tường.

“Cút! Cút mẹ tụi mày đi!”

“Đồ sâu bọ hút máu dân nghèo!”

Chú Ba – người vừa nãy suýt ký tên bán đất – phẫn nộ giơ cao tờ giao kèo in sẵn của Hoàng Thịnh, xé toạc ra làm đôi, làm bốn rồi ném thẳng những mảnh giấy vụn vào mặt Năm Lợi:

“Cút khỏi cù lao An Bình mau! Đừng để tụi tao nổi máu liều quăng tụi bây xuống sông Tiền cho cá tra rỉa thịt!”

Những người khác cũng rầm rộ bắt chước. Từng tờ hợp đồng chuyển nhượng đất, từng xấp giấy cam kết nợ nần bị xé tan nát, bay lả tả trong ngọn gió chướng khô khốc. Năm Lợi hoảng loạn cực độ, mặt cắt không còn hột máu. Gã ôm lấy cái cổ tay sưng vù, vừa lùi vừa lắp bắp van xin rồi hớt hải cùng hai tên đàn em nhảy tót lên chiếc vỏ lãi nổ máy tháo chạy trối chết về phía bờ bên kia, bỏ lại chiếc bàn nhựa đỏ trơ trọi giữa đất cồn.

Từ trong chiếc xe bán tải bóng lộn đỗ xa xa mé đường lớn, bóng dáng người đàn ông mặc comple sẫm màu lặng lẽ quan sát toàn bộ màn kịch bại trận. Cửa kính xe từ từ hạ xuống trong tích tắc, để lộ một ánh nhìn thâm trầm, sắc lạnh như mắt chim ưng găm thẳng về phía Tú và cỗ máy lọc nước, rồi chiếc xe gầm rú quay đầu lao vút đi, bụi đỏ cuốn mù mịt.

Sóng gió tạm lắng. Mặt đất chỉ còn lại tiếng máy nổ rì rầm đều đặn và dòng nước ngọt tinh khiết từ vòi xả vẫn chảy tràn trề vào bồn chứa, trong vắt như ngọc phù sa.

Tú bước vội đến bên tía, vòng tay ôm lấy tấm lưng còng gầy guộc đang run rẩy vì kiệt sức.

“Tía… sao tía lại ráng gượng dậy chi cho đau? Lưng tía đang trở chứng nặng mà…” Mắt Tú ướt đèm đẹp, giọng nghẹn ngào.

Ông Ba Sang nhìn con gái, bàn tay thô ráp sần sùi khẽ xoa nhẹ lên mái tóc thắt bím quen thuộc của cô. Nụ cười hiền hậu nở bừng trên gương mặt khắc khổ, đuôi mắt đồi mồi nheo lại đầy vẻ tự hào:

“Tía nằm trong buồng, nghe tiếng con nói đanh thép bên ngoài… Tía biết, con gái tía thực sự đã lớn rồi. Con nhỏ của tía không chỉ học chữ, mà còn mang theo cái tâm của đất mẹ trở về. Tía không thể nằm yên để lũ bất lương ức hiếp con tía, ức hiếp bà con cồn này được!”

Ông quay sang nhìn Thái. Thái đứng đó, vạt áo dính đầy dầu mỡ cơ khí, bắp tay phải quấn chặt lớp băng gạc trắng còn lấm tấm vài vệt máu khô, nhưng đôi mắt anh phẳng lặng và kiên nghị như cột buồm giữa bão giông. Ông Ba Sang bước tới, vỗ mạnh lên bờ vai lành lặn của anh:

“Thằng Hai Thái… Bác Ba nợ mày một tấm lòng. Cả cái cù lao An Bình này nợ mày một ân tình lớn!”

Thái mỉm cười hiền khô, lắc đầu:

“Dạ bác Ba đừng nói vậy, con cũng là dân cù lao, đất này nuôi con lớn, con mần được chút gì cho quê mình thì con mần tới cùng thôi bác.”

Chứng kiến cảnh tượng ấy, hơn ba mươi hộ dân trồng bưởi có mặt tại đó không ai bảo ai, đều đứng quây quần lại. Ánh mắt họ nhìn Tú và Thái giờ đây không còn là sự hoài nghi hay thương hại dành cho “hai đứa trẻ dại dột”, mà là sự kính trọng, niềm tin cậy tuyệt đối vào những người thực sự có tài, có đức để dẫn dắt họ đi qua cơn bĩ cực.

Chú Ba hắng giọng, bước lên phía trước, đại diện cho những người nông dân:

“Anh Ba Sang, cháu Tú, thằng Thái… Hồi nãy nói thiệt bụng là tao sợ quá, tao tưởng hết đường sống nên mới tính nhắm mắt đưa chân bán tháo đất hương hỏa. Nhờ con Tú với thằng Thái kéo máy ra, tao mới tỉnh ngộ! Nhưng mà con Tú ơi, nước mặn năm phẩy hai phần nghìn vầy, cống Cây Da nghe đâu nửa tháng mới đắp xong… Một cái máy này của thằng Thái dẫu có chạy hết công suất ngày đêm cũng chỉ cứu được vài ba vườn lân cận. Còn cả trăm công bưởi của cả xóm thì mần sao đây con? Tụi tao phải mần sao bây giờ?”

Câu hỏi ấy chạm đúng vào nỗi lo lắng đá nặng ngàn cân trong lòng tất cả mọi người. Không gian bỗng chốc chùng xuống. Gió sông Tiền thổi qua rặng bưởi xào xạc, mang theo hơi nóng hầm hập và mùi mặn chát của đợt triều cường lợ.

Tú hít một hơi thật sâu. Đôi mắt nâu sáng rực lên một vẻ quyết đoán lạ thường. Cô nhìn quanh một lượt những gương mặt sạm đen vì dãi nắng dầm sương, nhìn những bàn tay chai sần đang nắm chặt lấy nhau tìm kiếm một điểm tựa.

“Thưa tía, thưa các cô chú, các anh chị!” Tú cất giọng trong trẻo, đĩnh đạc nhưng chan chứa chân tình. “Một cái máy của anh Thái đúng là không thể tưới hết cả cù lao nếu chúng ta mạnh ai nấy mần, nhà nào lo nhà nấy như hồi nào tới giờ. Nhưng nếu ba mươi hộ dân chúng ta ở đây gom lại thành một mối, chia nhau từng giọt nước, chia nhau từng ngày công, con dám cam đoan không một gốc bưởi nào phải chết khát!”

Cô chỉ tay về phía rặng bưởi nhà mình rợp bóng mát:

“Con xin mời tía và toàn thể bà con cùng dời bước vô sân nhà con. Ngay trưa hôm nay, chúng ta sẽ mở một cuộc họp đồng lòng để bàn kế sách giữ cồn!”

* * *

Dưới bóng râm mát rượi của những tán bưởi cổ thụ trong vườn nhà ông Ba Sang, một cuộc hội nghị nông dân chưa từng có trong lịch sử cù lao An Bình đã diễn ra.

Không bàn ghế bọc nhung, không micro trang trọng, chỉ có những chiếc ghế đẩu bằng gỗ mù u, những tấm đệm cói dệt tay của má Năm Nhàn trải dọc hàng hiên, và một ấm trà bưởi nóng hổi bốc khói nghi ngút do Út Lành châm liên tục. Giữa sân, chiếc bảng mica đen nhỏ xíu vốn dùng để Thái ghi chép thông số kỹ thuật được dựng lên dưới gốc cây bưởi sum sê nhất.

Tú đứng cạnh chiếc bảng, tay cầm mẩu phấn trắng, phong thái đĩnh đạc của một cựu thủ khoa nông nghiệp bộc lộ rõ rệt nhưng giọng điệu lại vô cùng mộc mạc, gần gũi.

“Bà con ngó giùm con bản đồ này.” Tú vẽ nhanh sơ đồ các mương vườn trên cù lao. “Độ mặn ngoài sông Tiền hiện tại là năm phẩy hai phần nghìn, vượt xa ngưỡng chịu đựng của bưởi da xanh. Nếu rễ non tiếp xúc với nước này quá bốn mươi tám tiếng, tế bào lông hút sẽ bị teo tóp vì áp suất thẩm thấu, cây sẽ tự rụng lá, rụng trái non để tự vệ rồi thối rễ mà chết.”

Bà con nín thở lắng nghe, từng ánh mắt chăm chú dán chặt vào từng nét vẽ của Tú.

“Muốn cứu vườn, chúng ta phải làm song song hai mũi giáp công: thứ nhất là giữ ẩm cho đất bằng tự nhiên, thứ hai là cấp nước ngọt vi lượng chính xác cho từng gốc.”

Tú gõ mẩu phấn vào chữ “LỤC BÌNH”:

“Hồi sáng con đã nói, lục bình ngoài sông là tài nguyên trời cho. Toàn bộ thanh niên, đàn ông trong xóm sẽ lập đội vớt bèo, vớt lục bình phủ gốc dày ba mươi phân quanh tán bưởi. Lớp phủ này sẽ làm giảm bảy mươi phần trăm lượng bốc hơi nước do nắng hạn, đồng thời giữ cho nhiệt độ của đất luôn mát mẻ để rễ non không bị nướng chín. Việc này không tốn một cắc bạc nào của bà con, chỉ tốn sức vần công qua lại!”

“Được! Chuyện này tụi tui lo được!” Đực Nhỏ giơ tay cái rụp, xung phong ngay tắp lự. “Tui với đám thanh niên trong xóm huy động hết xuồng ba lá, vỏ lãi cào lục bình đắp kín hết các vườn trong ba ngày!”

“Hay quá con!” Chú Ba gật đầu lia lịa. “Vậy còn nước ngọt thì tính sao con Tú?”

Lúc này, Tú mỉm cười quay sang Thái:

“Về nguồn nước, xin nhường lời lại cho anh Thái – kỹ sư trưởng của cồn mình.”

Thái hơi ngượng ngùng khi mọi ánh mắt đổ dồn về phía mình, nhưng khi bước lên đứng cạnh Tú, vẻ điềm đạm và am hiểu máy móc của anh lập tức khiến mọi người an tâm tuyệt đối. Anh dùng phấn vẽ sơ đồ cụm máy lọc RO:

“Thưa bà con, cỗ máy hiện tại con ráp chạy bằng bơm cao áp kết hợp pin mặt trời, mỗi ngày đêm nếu chạy liên tục có thể lọc được mười lăm khối nước ngọt chuẩn không phẩy hai phần nghìn. Mười lăm khối nghe thì nhiều, nhưng chia cho ba mươi hộ thì mỗi hộ chỉ được nửa khối một ngày. Nếu tưới tràn như trước đây, đổ ào một cái là ngấm hết vô cát, không thấm tháp gì đâu.”

Bà con xôn xao lo lắng: “Nửa khối một ngày thì tưới kiểu gì cho mấy công bưởi?”

Thái điềm tĩnh giải thích tiếp:

“Dạ, cho nên con với Tú đã bàn kỹ: chúng ta phải bỏ hoàn toàn lối tưới tràn rãnh! Con sẽ xuống từng vườn, hướng dẫn bà con lắp hệ thống dây tưới nhỏ giọt dẫn thẳng vô từng gốc bưởi, hoặc dùng can nhựa đục lỗ kim cắm ngược xuống đất ngay sát đầu rễ. Mỗi gốc bưởi đang mang trái, một ngày chúng ta chỉ cấp đúng năm lít nước ngọt pha loãng với men vi sinh IMO của Tú. Năm lít nước đó đi thẳng vô rễ tơ, không thất thoát một giọt nào ra ngoài nắng! Mười lăm khối nước của máy sẽ đủ sức duy trì sự sống cho hơn hai ngàn gốc bưởi của toàn bộ các hộ tham gia!”

Cả sân vườn ồ lên một tiếng đầy kinh ngạc và thán phục. Một giải pháp khoa học đến từng chi tiết, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cơ khí chính xác và sinh học thực nghiệm, biến điều tưởng chừng như không thể thành hoàn toàn khả thi!

Chưa dừng lại ở đó, Thái nhìn thẳng vào mắt mọi người, giọng nói trầm ấm mà cương nghị:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai2
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai2

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…