Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa
Chương 5: Mầm xanh trong đất
Tiếng la thất thanh của Đực Nhỏ như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu không khí đang rực rỡ niềm tin giữa trưa hè cù lao.
Gió sông Tiền vẫn thổi lồng lộng qua rặng bưởi, nhưng trong làn gió ấy, Huỳnh Quốc Thái bỗng ngửi thấy vị tanh nồng, ngai ngái của bùn non pha lẫn vị mặn chát khẽ đọng lại trên đầu lưỡi. Anh buông tay Tú ra, vội bước tới đỡ lấy Đực Nhỏ đang lồm cồm bò dậy từ mé rãnh đất. Bàn tay dày dặn, quen ghìm búa cầm kềm của anh giữ chặt lấy bả vai cậu thanh niên, truyền sang một luồng sức mạnh vững chãi:
“Bình tĩnh lại Đực Nhỏ! Uống miếng nước lạnh rồi thở cho đều coi. Mày nói rõ ràng lại tui nghe, trạm quan trắc dưới vàm sông Tiền kéo còi hồi nào?”
Đực Nhỏ quệt mồ hôi trán nhễ nhại, hai bắp chân còn run bần bật, vừa thở dốc vừa chỉ tay về hướng ngã ba sông lớn:
“Dạ… mới tức thì đó anh Thái! Con nước rong mồng năm tháng này lên dữ quá, gió chướng lại thổi thốc từ ngoài biển vô ép nước mặn lấn ngược dòng. Mấy chú bên trạm đo được nồng độ mặn dưới cửa sông đã nhảy vọt lên bốn phần ngàn rồi. Người ta đang cho kéo còi báo động, giục mấy xã dưới hạ lưu đóng kín toàn bộ cống ngăn mặn. Em nghe mà lạnh cả sống lưng, sợ tới phiên cù lao mình hổng kịp trở tay nên ba chân bốn cẳng chạy riết về đây báo cho anh chị!”
Tú đứng sững bên cạnh, bàn tay băng gạc trắng khẽ siết chặt lấy tà áo bà ba. Ánh mắt thông minh của cô gái vừa mới rạng rỡ niềm vui cách đây vài phút giờ đã phủ một tầng lo âu sâu thẳm. Bốn phần ngàn. Đó là con số tử thần đối với loài cây có bộ rễ nhạy cảm như bưởi da xanh. Nước mặn một khi đã vượt ngưỡng một phần ngàn rưỡi là lá bắt đầu quéo ngọn, trên ba phần ngàn là rễ thối rữa, trút lá trơ cành chỉ trong vòng một con nước.
Nhìn gương mặt tái nhợt của Tú, lồng ngực Thái thắt lại một nhịp buốt nhói. Bao nhiêu năm gắn bó với cù lao, chứng kiến từng mùa lũ mùa hạn, anh hiểu rõ nỗi sợ hãi đang bóp nghẹt tâm can cô. Nhưng người thợ cơ khí với bản tính trầm tĩnh không cho phép mình hoảng loạn. Anh nheo mắt nhìn dòng nước đỏ ngầu phù sa ngoài mương vườn, nhẩm tính quy luật của con nước và dòng chảy trong đầu rồi cất giọng trầm ấm, dứt khoát:
“Tú, em đừng hoảng. Nồng độ bốn phần ngàn đó là ở ngoài vàm sông lớn, cách cù lao mình tới mười mấy cây số đường sông. Nước mặn muốn len lỏi vô tới hệ thống kinh rạch nội đồng An Bình phải mất ít nhất từ năm tới bảy ngày nữa, đợi các con nước rong tiếp theo đẩy dần vô. Tía hồi xưa dạy rồi, con nước mặn nó lòn dưới đáy sông, đi chậm hơn nước ngọt tầng mặt. Mình vẫn còn một khoảng thời gian vàng!”
Tú ngước lên nhìn Thái, trong đôi mắt trong veo của cô lóe lên một tia bấu víu:
“Nhưng anh Thái ơi, đất vườn nhà em đang bị ngộ độc phân hóa học nặng nề, rễ bưởi hoại tử gần hết rồi. Nếu trong mấy ngày tới mình không kịp đưa vi sinh xuống giải độc đất, kích cho cây bung ra lớp rễ non khỏe mạnh có sức đề kháng, thì chỉ cần nước lợ thấm qua đáy mương thôi cũng đủ giết chết toàn bộ mười lăm công bưởi này!”
“Bởi vậy, tụi mình phải chạy đua với con nước mặn!” Thái gật đầu dứt khoát, ánh mắt rực lên ngọn lửa kiên quyết của người thợ đối diện với một cỗ máy hỏng hóc cần đại tu khẩn cấp. “Em cứ lo chuẩn bị nguyên liệu nhân sinh khối vi sinh theo đúng bài bản nông học của em đi. Còn cái thùng khuấy men tự động dung tích lớn, giao hết cho tui. Đêm nay, tui bảo đảm xưởng cơ khí cầu Phù Sa sẽ đỏ lửa làm cho xong cỗ máy đó cho em!”
*
Đêm cù lao An Bình buông xuống đặc quánh. Gió chướng thổi ràn rạt qua những ngọn dừa nước ven sông, mang theo hơi ẩm nồng nặc mùi bùn phơi đáy. Cả xóm nghèo đã chìm vào giấc ngủ sau một ngày nhọc nhằn phập phồng lo sợ hạn mặn, chỉ riêng căn xưởng cơ khí lợp mái tôn xi-măng của Thái bên chân cầu Phù Sa là sáng rực ánh đèn dây tóc.
Tiếng máy mài rít lên từng hồi chói gắt, bắn ra những chùm hoa lửa vàng rực xé toạc màn đêm. Thái đeo chiếc kính bảo hộ đen nhánh đã xước mòn theo năm tháng, lưng trần ướt đẫm mồ hôi, để lộ những múi cơ rắn rỏi hằn lên từng đường gân cuồn cuộn.
Trước mặt anh là hai chiếc thùng phuy nhựa màu xanh lam loại hai trăm lít, vốn là đồ cũ anh mua lại từ mấy chiếc ghe chở dầu chạy đường dài dưới bến phà. Chiều tối nay, anh đã cọ rửa bằng xà bông và nước nóng tới bốn năm bận, tẩy sạch bong từng vết dầu bám cho tới khi đưa mũi ngửi chỉ còn thấy mùi nhựa nguyên sinh khô ráo.
Thái cẩn thận lấy thước dây đo đạc từng phân trên nắp phuy. Trong đầu anh, từng lời Tú căn dặn hồi trưa vẫn còn văng vẳng rõ mồn một như khắc vào tâm trí: “Anh Thái nhớ nghen, vi sinh vật bản địa tụi nó mỏng manh lắm. Motor khuấy không được chạy quá nhanh, chỉ được quay từ bốn mươi tới sáu mươi vòng một phút thôi. Quay nhanh quá tạo lực ly tâm lớn sẽ xé rách màng tế bào của nấm men và trực khuẩn. Cánh khuấy cũng phải vát góc, bo tròn mép để khi cuộn đảo chỉ tạo luồng đối lưu êm ả, cấp đủ oxy cho tụi nó hô hấp chớ không được đánh bọt tung tóe.”
Nhớ tới vẻ mặt nghiêm túc đầy nhiệt huyết của cô gái nhỏ khi nói về những sinh vật mắt thường không nhìn thấy được, khóe môi Thái khẽ cong lên thành một nụ cười ấm áp. Anh bỏ chiếc kìm hàn xuống, lau vội giọt mồ hôi đang chảy dài vào khóe mắt. Bàn tay Tú mềm mại nhưng đã rộp toác vì cầm cuốc, anh không thể để cô phải vất vả dùng tay khuấy hàng trăm lít men lỏng thêm một ngày nào nữa.
Để giải quyết bài toán tốc độ quay chậm mà lực đảo vẫn phải mạnh mẽ, Thái lôi từ gầm bàn thợ ra một cụm motor giảm tốc bánh răng hành tinh mười hai vôn, tháo từ chiếc máy gặt đập liên hợp phế liệu mà anh mua gom được mùa trước. Anh cặm cụi tiện một trục khuấy bằng thép không gỉ phi hai mươi, rồi dùng mỏ hàn gió đá uốn cong ba tầng cánh khuấy bằng inox tấm, mỗi cánh đều được anh mài nhẵn thín các cạnh sắc và vát một góc nghiêng ba mươi độ chuẩn xác như một tác phẩm điêu khắc.
“Cạch.”
Tiếng then cài cửa khẽ rung lên. Bà Năm Nhàn bưng chiếc mâm nhôm nhỏ bước vào xưởng, trên mâm là một bình trà quao hãm nóng và đĩa khoai mì hấp nước cốt dừa rắc mè rang thơm lừng. Thấy con trai vẫn cặm cụi bên đống sắt thép giữa đêm khuya, bà thở dài xót xa:
“Thái à, nghỉ tay vô ăn miếng khoai mì lót dạ rồi uống ngụm trà cho ấm bụng đi con. Gần hai giờ sáng rồi, mần gì mà trui trút thân xác dữ vậy con ơi?”
Thái tháo kính bảo hộ, nở nụ cười hiền lành để lộ hàm răng trắng bóng trên gương mặt lấm lem vệt muội than:
“Má chưa ngủ hả má? Con đang độ lại cái thùng khuấy men cho con Tú đặng sáng mai nhỏ nhân giống vi sinh cứu vườn bưởi. Nước mặn ngoài vàm sông lớn nghe đâu áp sát tới chân cù lao rồi, con không làm lẹ cho xong đêm nay thì sợ hổng kịp cho con nhỏ mần ăn.”
Bà Năm Nhàn nhìn chiếc thùng phuy nhựa được gá lắp cẩn thận, rồi nhìn ánh mắt sáng ngời của con trai, ánh mắt mà từ dạo biến cố nợ nần bốn năm trước khiến anh phải bỏ dở bằng thạc sĩ bà chưa từng thấy lại. Người mẹ già khẽ cười, nụ cười đôn hậu xen lẫn niềm thấu hiểu sâu xa:
“Hồi chiều con Tú nó ghé qua chào má, con nhỏ coi vậy mà chịu thương chịu khó ghê gắt. Má ngó bàn tay nó quấn băng mà xót ruột. Con nhỏ học hành đỗ đạt thủ khoa trên thành phố, vậy mà dám bỏ hết về đây lội sình xới đất cứu vườn cho tía nó. Đứa con gái có hiếu, có tâm như vậy… thiệt quý như vàng ròng xứ cù lao mình.”
Bà Năm Nhàn ngập ngừng một thoáng, rồi đặt tay lên bờ vai rắn rỏi của Thái, giọng chùng xuống tha thiết:
“Con ráng giúp đỡ con nhỏ nghen Thái. Nhà mình với nhà chú Ba Sang là chỗ láng giềng tối lửa tắt đèn mấy đời nay. Con nhỏ đang lúc ngặt nghèo, gặp miệng đời cay nghiệt của thím Bảy với lái Năm Lợi dập vùi, có con đứng bên cạnh che chắn, con nhỏ mới vững bụng mà bám đất được.”
“Dạ, má yên tâm. Con biết mình phải mần cái gì mà.” Thái trầm giọng đáp, ánh mắt nhìn ra khoảng tối mênh mông ngoài bờ sông Tiền, nơi những rặng bưởi nhà Tú đang oằn mình trong cơn khát.
Khi bà Năm Nhàn trở vào buồng trong, Thái lại tiếp tục lao vào công việc. Anh chế tạo thêm một bộ rơ-le hẹn giờ tự ngắt từ linh kiện điện tử cũ, đấu nối với bình ắc-quy mười hai vôn. Thiết bị này sẽ giúp motor cứ chạy mười lăm phút lại tự nghỉ mười lăm phút, vừa tiết kiệm điện bình, vừa giữ cho dung dịch men không bị quá nhiệt.
Đến khi tiếng gà gáy le te đầu tiên vang lên từ xóm dưới, và vệt rạng đông màu lòng đỏ trứng gà bắt đầu le lói nơi chân trời phía bên kia sông Tiền, nhát vặn ốc cuối cùng của Thái cũng hoàn tất.
Anh cắm hai kẹp bình ắc-quy vào cọc đồng.
“Ro ro ro…”
Tiếng motor giảm tốc chạy êm ru như tiếng mèo thở. Trục khuấy quay đều đặn với tốc độ đúng năm mươi vòng một phút, ba tầng cánh khuấy inox lướt đi mượt mà, tạo thành một vòng xoáy đối lưu tuyệt đẹp từ đáy thùng cuộn ngược lên nắp.
Thái thở phào một hơi dài, đưa mu bàn tay quệt ngang vầng trán đẫm mồ hôi. Một cảm giác mãn nguyện và sảng khoái kỳ lạ lan tỏa khắp cơ thể anh, xua tan đi toàn bộ sự mệt mỏi của một đêm thức trắng.
*
Bảy giờ sáng, nắng sớm rọi những tia vàng óng ả xuyên qua kẽ lá bưởi vườn nhà ông Ba Sang.
Trước sân sau, không khí rộn ràng náo nức như một ngày hội nhỏ. Thái đẩy chiếc xe lôi tự chế chở chiếc thùng khuấy men hai trăm lít sang tới nơi thì thấy Út Lành và Đực Nhỏ đã có mặt tự bao giờ. Dưới bóng râm của cây vú sữa cổ thụ, Tú đang thoăn thoắt chuẩn bị các nguyên liệu, mái tóc bím hai bên khẽ đung đưa theo từng nhịp bước chân nhanh nhẹn.
Thấy Thái bước vào cổng, trên tay còn cầm theo cuộn dây điện và bình ắc-quy, đôi mắt Tú bừng sáng lên một niềm vui khó tả:
“Anh Thái! Anh… anh làm xong thiệt rồi đó hả? Trời đất ơi, nguyên một đêm không ngủ luôn sao anh?”
Thái đặt chiếc thùng phuy xuống nền đất bằng phẳng cạnh mương vườn, cười xòa:
“Tui đã hứa với kĩ sư nông nghiệp thì người thợ máy này đâu dám nuốt lời. Nè, em coi thử coi thông số kỹ thuật tui độ vầy đã đúng ý em chưa?”
Tú cúi xuống, ngắm nghía từng đường hàn tinh xảo, dùng tay xoay nhẹ trục khuấy êm ru rồi nhìn bộ rơ-le tự ngắt được bọc trong hộp nhựa chống thấm nước cẩn thận. Sự chu đáo và tài hoa của Thái khiến lồng ngực cô trào dâng một đợt sóng ấm áp. Cô ngẩng lên, nhìn quầng thâm mờ dưới đáy mắt anh, khẽ cắn môi:
“Xuất sắc ngoài sức tưởng tượng của em luôn… Cảm ơn anh Thái nhiều lắm nghen!”
“Thôi, người trong nhà với nhau cảm ơn hoài nghe sến rện quá chị Tú ơi!” Đực Nhỏ đứng bên cạnh toe toét cười, hai tay đang ôm một nải chuối xiêm chín bói to đùng. “Chị mau chỉ cho em với con Út Lành làm cái món ‘quân đội vi sinh’ này đi, nhìn đống chuối với mật đường này em thèm chảy nước miếng từ nãy tới giờ nè!”
Út Lành liếc xéo Đực Nhỏ một cái rõ dài:
“Mày chỉ giỏi ăn vụng thôi Đực! Người ta làm chế phẩm sinh học cứu vườn bưởi chớ có phải nấu chè cho mày đâu mà thèm!”
Tiếng trêu chọc rổn rảng của hai đứa nhỏ khiến không khí buổi sáng bỗng chốc rộn rã tiếng cười, xua tan đi nỗi ám ảnh u ám về con nước mặn đang rình rập ngoài vàm sông.
Tú xắn cao tay áo bà ba, bước lại chiếc bàn gỗ kê giữa sân, bắt đầu phân công công việc một cách rành mạch, chuẩn xác của một nhà khoa học thực thụ:
“Được rồi, bữa nay tụi mình sẽ tiến hành nhân sinh khối chế phẩm IMO cấp hai. Nguyên tắc cốt lõi của nông nghiệp hữu cơ là lấy tự nhiên nuôi tự nhiên, dùng chính các vi sinh vật bản địa ngàn đời nay của đất cù lao để chữa lành cho đất cù lao. Đực Nhỏ phụ trách bóc vỏ hai chục ký chuối xiêm chín rục này, dùng tay bóp thật nhuyễn trong thau nhôm. Chuối chín chứa hàm lượng kali hữu cơ cực cao và nguồn đường đơn dồi dào, là thức ăn hảo hạng để kích hoạt nấm men phát triển.”
“Dạ, cái vụ bóp chuối này nghề của em, bảo đảm nhuyễn như cháo sườn luôn!” Đực Nhỏ hăng hái xắn tay áo nhào vô làm liền.
Tú quay sang Út Lành, chỉ vào mấy thúng cám gạo mới xay còn ấm nóng bốc mùi thơm dìu dịu:
“Út Lành cân cho chị đúng ba mươi ký cám gạo mới và năm lít rỉ mật đường nguyên chất. Cám gạo là nguồn dinh dưỡng phức hợp chứa đầy vitamin nhóm B và khoáng chất để nuôi dưỡng các chủng vi khuẩn quang dưỡng và xạ khuẩn phân giải độc chất. Còn đây…”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…