Hương Bưởi Bên Cầu Phù Sa

Chương 6: Bão mặn tràn bờ

Cơn gió chướng rít qua ngọn dừa nước ngoài vàm sông không còn mang theo vị ngai ngái lành lạnh của hơi nước ngọt phù sa như mọi bận. Nó khét lẹt, hanh hao và mằn mặn như ai đem muối hột rang trên chảo gang rồi thổi thốc vào mặt người.

Tiếng loa phát thanh trên nóc nhà lồng ấp vừa dứt, cả vạt cù lao An Bình như chìm vào một khoảng lặng nghẹt thở. Nhưng cái tĩnh mịch ấy chỉ kéo dài được chừng tàn điếu thuốc, rồi lập tức vỡ vụn bởi chuỗi âm thanh hỗn loạn: tiếng người í ới gọi nhau thất thanh dọc theo bờ rạch, tiếng chân chạy thình thịch trên đan cầu nông thôn, tiếng đập búa chan chát và tiếng ròng rọc rít ken két khi các tổ tự quản hối hả hạ những cánh phai bằng sắt dày cộp ở miệng cống thủy lợi ngoài vàm sông Tiền.

Đóng cống! Phải ngăn mặn tràn vào bằng mọi giá!

Thường năm, phải đợi tới cuối tháng Giêng hay tận rằm tháng Hai âm lịch, khi nước từ thượng nguồn Mekong cạn kiệt, con nước mặn chát của biển Đông mới lần mò ngược dòng vào sâu trong đất liền. Thế nhưng năm nay, đợt hạn mặn lịch sử ập đến sớm hơn dự báo gần cả tháng trời. Gió chướng thổi dữ dội kết hợp cùng kỳ triều cường cực đoan đã đẩy lưỡi mặn bốn phần ngàn lội ngược hàng chục cây số, phong tỏa bốn bề cù lao như một chiếc thòng lọng vô hình siết chặt lấy yết hầu của hàng trăm héc-ta miệt vườn trù phú.

Đứng giữa mảnh vườn nhà, Tú cảm nhận rõ lồng ngực mình thắt nghẽn lại. Bàn tay cô, nơi những vết xước măng rô mới vừa rỉ máu khi nãy vì bới đất kiểm tra rễ bưởi, lúc này tê buốt đi. Gió chướng táp vào da thịt rát bỏng. Cô nhìn xoáy vào khoảng đất nâu tơi xốp dưới chân — nơi lớp rễ tơ trắng muốt như ngọc vừa bung nở sau bao công sức ủ men, xới đất và nâng niu.

Rễ non vừa nhú, mềm mại và mong manh như da thịt trẻ sơ sinh. Thứ rễ ấy gặp được nước ngọt phù sa thì đâm sâu ngàn dặm, nhưng chỉ cần một giọt nước mặn chát lọt vào, muối khoáng sẽ rút sạch dịch tế bào, thiêu cháy chóp rễ non chỉ sau vài con trăng.

“Tú… Tú ơi! Mau xách thùng ra đây phụ tía vét mương!”

Tiếng gọi khản đặc của ông Ba Sang dội lên từ con mương xẻ giữa hai liếp bưởi kéo cô giật mình quay ngoắt lại.

Dưới đáy mương, ông Ba Sang đang lom khom lội bì bõm trong lớp bùn lỏng. Dáng người ông gầy guộc, chiếc áo bà ba màu chàm ướt sũng dán chặt vào tấm lưng còng gập. Đôi bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của ông cầm chiếc gàu sòng bằng thiếc, cố múc từng vạt bùn nhão nhoét đắp cao lên bờ bao quanh gốc bưởi nhằm ngăn nước thẩm thấu. Tiếng thở của ông rít lên từng hồi nặng nhọc, đứt quãng, xen lẫn những cơn ho rũ rượi như muốn xé toạc buồng phổi già nua.

“Tía! Tía lên bờ mau đi tía! Lưng tía đang sưng tấy lên kìa, tía lội bùn vậy rủi phong thấp ngấm vô là liệt giường đó tía!”

Tú hớt hải buông chiếc muỗng gỗ bới đất, vén vội tà áo bà ba chạy vội xuống bờ mé mương. Đáy mương nước đã cạn phân nửa vì nước ròng, nhưng lớp bùn thì dẻo quánh lại. Khi bước chân Tú vừa chạm xuống làn nước mương vườn, một cảm giác lạnh buốt rồi châm chích râm ran truyền thẳng qua da thịt.

Tú khựng người lại. Nước mương… có gì đó bất thường!

Cống bọng đầu vàm đã hạ cửa sắt đóng kín mít từ xế trưa, nhưng tại sao nước trong mương vườn nhà cô không còn cái màu đỏ đục quen thuộc của phù sa sông Tiền? Mặt nước phẳng lặng một cách ma quái, trong vắt đến độ có thể nhìn thấu lớp rong đuôi chó chết thối dưới đáy, nhưng trên bề mặt lại nổi lên từng mảng váng mỏng lấp lánh như vệt dầu loang.

Tú vội vàng ngồi thụp xuống bờ liếp, nhúng những ngón tay run rẩy xuống dòng nước rồi đưa lên đầu lưỡi nếm thử.

Chát ngắt! Vị mặn đắng nghét, the the xộc thẳng lên tận cuống họng khiến cô sặc sụa, phải nhổ vội búng nước bọt ra bờ cỏ.

“Nước mặn… Nước mặn lọt vô mương vườn rồi tía ơi!” Tú thảng thốt kêu lên, giọng lạc đi vì kinh hoàng.

Ông Ba Sang đứng chết trân giữa lòng mương, chiếc gàu sòng trên tay ông rơi đánh “tõm” xuống vũng bùn lầy, bắn tung tóe những giọt nước đen ngòm lên vạt áo chàm. Đôi mắt già nua đùng đục của ông trừng lớn, nhìn con gái như không tin vào tai mình:

“Mày… mày nói bậy cái gì vậy Tú? Cống đầu ấp Năm Lợi với xóm Trổ đã đóng cứng ngắc từ lúc còi hú ngoài sông mà! Đất vườn nhà mình đắp đê bao cao nghều, làm sao nước sông tràn vô được hả con?”

“Nó không tràn trên mặt, mà nó thẩm thấu dưới đáy mương!” Tú nghẹn ngào, bàn tay bấu chặt vào bờ đất nham nhở. “Đợt hạn này sông cạn đáy, áp lực nước mặn ngoài sông lớn hơn trong nội đồng. Đất cù lao mình toàn mạch cát pha sét ngầm, nước mặn luồn theo túi cát dưới đáy sông, ép trào ngược lên đáy các con mương vườn… Nó ngấm từ dưới ngấm lên rồi tía ơi!”

Dưới cái nắng quái ác của buổi ban chiều đang dần tắt, lời giải thích rành rẽ của đứa con gái học nông nghiệp như một nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can người nông dân già.

Ông Ba Sang run rẩy ngước nhìn lên rặng bưởi mười lăm công của gia đình. Và như để chứng thực cho cơn ác mộng đang hiện hữu, những cây bưởi da xanh bắt đầu phản ứng trước độc tố của dòng nước ngầm mặn chát.

Chỉ trong vòng hai ngày nắng hạn gay gắt vừa qua kết hợp với mạch nước mặn rỉ vào đất, tầng rễ dưới sâu của những gốc bưởi cổ thụ đã bị ngộ độc muối clo và natri cực độ.

Từ đầu cành, những chiếc lá bưởi xanh mướt bỗng cuộn mép lại, đầu chóp lá khô quắt, chuyển sang màu vàng cháy xém như vừa bị ai đem hơ qua lửa ngọn. Và rồi, một cảnh tượng đau đớn đến xé lòng diễn ra ngay trước mắt hai cha con.

Những chùm hoa bưởi vụ nghịch — niềm hy vọng duy nhất của ông Sang để gỡ gạc lại vụ bưởi Tết vừa mất trắng — vốn đang chúm chím hé nở những cánh hoa trắng ngà thơm dịu dàng, bỗng chốc rung rinh rệu rã. Một cơn gió chướng thổi qua, hàng vạn cánh hoa bưởi cùng những trái non mới bằng đầu ngón tay cái bắt đầu trút xuống lả tả.

Cánh hoa bưởi trắng tinh khiết rụng rào rào, rơi lả tả xuống mặt đất nứt nẻ, trút xuống mái đầu bạc phơ của người cha già, và trôi bồng bềnh dập dềnh trên mặt nước mương vườn đen ngòm váng phèn. Trắng xóa cả một khúc mương. Trắng đến rợn người, trắng tang tóc tựa như một trận tuyết rơi lạnh lẽo giữa buổi chiều oi nồng nơi miệt vườn phương Nam.

“Hoa rụng… Hoa rụng hết trơn rồi trời ơi!”

Ông Ba Sang gào lên một tiếng thảm thiết. Ông không màng đến chiếc lưng đau buốt, quýnh quáng quỳ sụp xuống lòng mương, dùng đôi bàn tay thô nhám vốc từng vốc cánh hoa bưởi ướt sũng dán vào lồng ngực mình, như người mẹ cố níu giữ đứa con thơ đang hấp hối.

“Đừng rụng mà… Đừng rụng nữa bưởi ơi! Tía lạy tụi bây… Ra giêng tía còn phải trả tiền phân thuốc cho người ta, tía còn phải giữ đất cho con Tú… Tụi bây rụng hết rồi thì cha con tao biết sống làm sao đây hả trời?!”

“Tía! Tía đừng vậy mà tía, lên bờ đi tía!” Tú khóc nấc lên, lao xuống dòng mương lầy lội, hai tay ôm chặt lấy bờ vai khẳng khiu của cha, cố sức kéo ông đứng dậy.

Nhưng ông Ba Sang như phát dại. Cơn đau thể xác từ đốt sống lưng bị thoái hóa nặng chèn ép tủy sau những ngày lao lực quá độ, cộng hưởng với cú sốc tinh thần tột cùng khi nhìn cơ nghiệp tổ tiên sụp đổ trước mắt, đã vắt kiệt chút sinh lực cuối cùng của người đàn ông cả đời gắn bó với đất đai.

Ông nấc lên một tiếng nghẹn ứ nơi cổ họng, đôi mắt trợn ngược, toàn thân mềm nhũn rồi đổ ập xuống mép bờ rạch, bất tỉnh nhân sự.

“Tía! Tía ơi! Cứu… Cứu tía tôi với! Ai ở gần đó cứu tía tôi với!”

Tiếng thét xé ruột của Tú vang vọng khắp khúc sông vắng. Cô dùng hết sức bình sinh bế thốc đầu cha lên khỏi vũng bùn lầy, một tay đỡ lấy tấm lưng gầy gò của ông, nước mắt giàn giụa nhỏ xuống gương mặt tím tái, cắt không còn hột máu của người cha già.

May thay, vừa lúc đó, ngoài ngõ vườn có tiếng bước chân chạy dồn dập. Út Lành cùng Đực Nhỏ tay xách mấy chiếc can nhựa rỗng chạy sang, định bàn việc trữ nước ngọt, nghe tiếng Tú la thất thanh liền phóng thục mạng xuống mương.

“Trời đất quỷ thần ơi! Chú Ba bị làm sao vậy chị Tú?!” Đực Nhỏ la lớn, quăng phịch chiếc can nhựa xuống đất, nhảy ào xuống xốc nách ông Ba Sang lên.

“Tía chị ngất xỉu rồi! Đực, phụ chị bế tía lên võng trong nhà mau lên!” Tú gạt nước mắt, giọng run rẩy nhưng vẫn cố giữ lấy sự tỉnh táo cuối cùng của một người con.

Ba người trẻ tuổi xúm xít lại, người nâng đầu, kẻ bợ chân, chật vật đưa ông Ba Sang vượt qua con dốc bờ liếp trơn trượt để vào nhà. Đực Nhỏ cẩn thận đặt ông nằm ngay ngắn trên chiếc phản gỗ gõ đỏ giữa gian nhà trên, trong khi Út Lành quýnh quáng chạy đi lấy dầu gió cạo gió và giục Đực ra trạm xá ấp mời y sĩ.

Tú ngồi quỳ bên mép phản, đôi bàn tay run rẩy xoa dầu nóng lên thái dương và lồng ngực cha. Nhìn những vết đồi mồi lốm đốm trên làn da sạm nắng, nhìn sống mũi hóp lại và đôi bờ môi nứt nẻ khô khốc của cha, lòng Tú đau thắt như có ngàn mũi dao cào xé. Tất cả bi kịch này, gánh nặng nợ nần này, đều do mảnh vườn mà ra. Suốt bao năm qua, cha cô đã âm thầm chịu đựng sự bóc lột của thương lái, cắn răng gánh vác mọi nhọc nhằn chỉ để nuôi cô ăn học thành tài trên thành phố. Vậy mà ngày cô trở về, thứ cô mang lại cho ông chưa được bao nhiêu thì giông bão đã chực chờ cuốn phăng tất cả.

Sau một hồi day bấm huyệt nhân trung và xoa bóp dầu nóng, ông Ba Sang khẽ cựa mình, phát ra những tiếng rên rỉ yếu ớt trong cơn mê sảng: “Bưởi… hoa bưởi trôi trắng sông rồi… Đừng bán đất… đừng ký giấy nghen con…”

Nước mắt Tú lại ứa ra, cô nắm chặt lấy bàn tay gầy trơ xương của cha, áp vào má mình: “Dạ, con nghe tía… Con không bán đất đâu tía. Con ở đây với tía, con nhất định cứu vườn bưởi, tía ráng khỏe lại nghen tía…”

Khi tiếng thở của ông Sang bắt đầu đều lại đôi chút, Tú mới tạm buông tay cha. Cô bước nhanh ra chiếc bàn tre trước hiên, mở chiếc túi xách chuyên dụng lấy ra chiếc bút đo độ mặn điện tử — dụng cụ cô luôn mang theo bên mình từ ngày rời phòng thí nghiệm.

Tú bước phăm phăm ra lại bờ mương, múc một ca nước lưng chừng, cắm sâu đầu điện cực kim loại của chiếc bút đo vào.

Màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu nhấp nháy vài giây rồi hiện lên những con số điện tử màu đen sắc lạnh.

Tú nín thở nhìn vào màn hình. Đồng tử cô co rút lại kịch liệt.

Bốn phẩy hai phần ngàn (4,2‰)!

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai2
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai2

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…