Hương Mực Tùng Yên Vấn Vương Vạt Áo
Chương 2: Bóng Đêm Tàng Thư
Ánh nến leo lét trên chiếc đĩa đồng hắt xuống bàn trà một vệt sáng vàng vọt, chập chờn theo từng cơn gió lạnh lùa qua khe liếp. Bên ngoài, tiếng chuông chùa xa xa điểm hồi canh năm, báo hiệu một đêm dài sắp tàn nơi thị trấn ven sông.
Lương Khắc Hoài khép hờ đôi mắt mỏi mệt, ngón tay thon dài khẽ day ấn hai bên huyệt thái dương đang giật từng cơn buốt nhức. Suốt ba năm qua, kể từ ngày vụ án oan khuất chốn Tàng Thư Viện kinh kỳ bùng nổ, chàng chưa từng có lấy một đêm ngon giấc. Khi ấy, lũ tham quan cấu kết cùng gian thương biển thủ ngân khố và làm giả sổ sách, rồi trút hết tội vạ lên đầu một Điển tịch quan trẻ tuổi không bè không cánh như chàng. Giữ được tính mạng nhờ công lý nửa vời và bị biếm trích về coi giữ Tàng Thư Lâu huyện Thanh Tùng heo hút này, nhưng bóng đen dằn vặt cùng nỗi bất lực khôn nguôi vẫn bám riết lấy chàng như hình với bóng. Cứ mỗi lần chìm vào cơn mê, cảnh tượng ngục tối lạnh lẽo và những ánh mắt tráo trở nơi quan trường lại hiện về bóp nghẹt tâm can.
Khẽ buông tiếng thở dài khô khốc, Khắc Hoài đứng dậy bên án thư. Trường bào vải gai màu lam sẫm phủ trên thân hình cao ráo nhưng có phần gầy guộc. Chàng tiến bước đến đẩy nhẹ cánh cửa sổ gác hai, đón lấy luồng gió sớm lành lạnh thổi lên từ dòng Tùng Giang. Sương mai bảng lảng phủ mờ những rặng liễu ven bờ, và phía chân trời đằng đông, một vệt mây hồng ấm áp đang chậm rãi hé rạng, xua tan màn đêm u tịch.
Không thể tiếp tục chịu đựng sự ngột ngạt của cơn đau đầu, Khắc Hoài thắp thêm một ngọn đèn lồng giấy dầu rồi rảo bước xuống các dãy giá gỗ tầng dưới. Là nơi lưu trữ toàn bộ công văn, địa chí và thư tịch cổ của phủ Giang Nam suốt mấy triều đại, gian lầu thênh thang này luôn phảng phất mùi ẩm mốc của giấy cũ và bụi bặm thời gian.
Chàng dừng chân trước khu vực chứa các bộ địa chí cổ. Mở một tráp gỗ trắc rạn nứt, chân mày Khắc Hoài khẽ nhíu lại khi nhìn thấy góc những cuốn sách bìa lụa đã bị mối mọt đục khoét nham nhở. Khí hậu vùng sông nước Giang Nam vốn ẩm ướt, hơi nước bốc lên từ lòng sông quanh năm ngấm vào từng thớ giấy. Nhưng điều khiến chàng xót xa hơn cả là chất lượng mực viết trong những năm gần đây quá đỗi tồi tệ. Thứ mực pha tạp keo thối và muội khói bẩn vừa dễ bong tróc, nhòe nhoẹt khi gặp ẩm, lại vừa tỏa ra thứ mùi hôi tanh thu hút sâu mọt đến cắn phá.
“Muốn tu bổ lại đống thư tịch quý giá này, nếu không có mực tốt thì chẳng khác nào hủy hoại cổ thư...” Khắc Hoài lẩm bẩm, ngón tay nhẹ nhàng lướt qua mép giấy mỏng manh như cánh ve.
Chàng hiểu rõ, muốn giữ gìn điển tịch trăm năm, nhất định phải tìm được loại mực tùng yên thượng hạng. Đó phải là thứ mực được luyện từ muội thông già tinh khiết, hòa cùng keo sạch và các vị thảo mộc thiên nhiên có khả năng kháng ẩm, xua đuổi côn trùng mà không làm hư hại sợi giấy. Nhưng những thỏi mực bày bán ở các phường buôn lớn ngoài phố huyện mấy bữa nay chàng xem qua đều chỉ là thứ phẩm hào nhoáng bên ngoài, nồng nặc mùi hương liệu rẻ tiền nhằm che đậy cốt keo ôi thiu.
Đang lúc cẩn trọng dời từng xấp tài liệu sang bàn trà để phân loại, ánh mắt Khắc Hoài chợt dừng lại ở một chiếc hộp gỗ bách nằm khuất sâu nơi góc giá dưới cùng. Chàng cẩn thận phủi đi lớp bụi mỏng, mở nắp hộp và lấy ra một cuộn công văn cũ đã ngả màu vàng sẫm. Đó là bản ghi chép việc trị thủy dòng Tùng Giang từ sáu mươi năm trước, vào thời kỳ đầu dựng trấn.
Khắc Hoài cẩn thận mở từng nếp gấp. Bỗng nhiên, đôi mắt vốn luôn tĩnh lặng như mặt hồ mùa đông của chàng khẽ lay động.
Trải qua hơn nửa thế kỷ dãi dầu trong bóng tối ẩm thấp của kho lưu trữ, tờ giấy bồi tuy đã nhuốm màu thời gian nhưng từng nét chữ trên mặt giấy vẫn đen nhánh lạ thường. Không hề có dấu hiệu bay màu hay nhòe rạn, sắc mực đen tuyền còn ánh lên một sắc tím biếc thanh tao, sắc sảo đến từng nét phẩy, nét mác. Nhưng điều kỳ diệu hơn cả chính là khi Khắc Hoài cúi sát nhìn kỹ, một mùi hương dịu mát bỗng thoảng đưa vào cánh mũi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…