Hương Trầu Cay Đọng Nắng Đất Miệt Vườn
Chương 6: Tro Trấu Hun Khói Chiều
Tiếng thét thất thanh vừa dội tới, cụ Ba Hòa đã siết chặt thân gậy tre, quắc mắt nhìn về mé hạ lưu rạch Cầu Tre. Dưới bến nước, rổ bánh tét lá cẩm còn thơm phức mùi nếp mới được Tấn vội đặt lên chõng tre bên chái hè. Bác Năm Đước hất phăng chiếc khăn rằn vắt vai xuống tay, mặt mày biến sắc:
“Tiếng thằng Tư Tốt xóm dưới! Đi mau anh Ba, nước ròng đang cạn kiệt, trầu mà úng lá cữ này là kể như trắng tay!”
Không chút chần chừ, cụ Ba Hòa cùng Trọng Tấn và bác Năm Đước bước vội xuống bến, mở dây cột chiếc xuồng ba lá lướt nhanh theo dòng nước đỏ quạch phù sa. Ba Khiêm đứng trên bờ ngập ngừng giây lát rồi cũng xăm xăm lội xuống lòng rạch, đẩy mũi xuồng phóng đi vùn vụt. Mái dầm vung lên ràn rạt, rẽ qua những rặng dừa nước đang oằn mình dưới ngọn gió chướng se lạnh.
Cập mé liếp trầu xóm dưới, cảnh tượng hoang tàn đập ngay vào mắt cụ Ba Hòa. Từng hàng nọc cau rũ rượi, những dây trầu vốn xanh mướt nay rũ xuống như phải bỏng, mặt lá lốm đốm những quầng vàng ủng, rìa lá quăn queo rụng lả tả đầy mặt liếp. Dưới rãnh mương, dòng nước tù đọng lờ đờ không lối thoát do mấy trận mưa dầm dai dẳng của cữ tháng Tám dồn ứ lại, bốc lên mùi chua ngai ngái.
Bên bờ rào râm bụt, mấy chục người dân làng Tân Thới Nhất xúm xít quanh một gã đàn ông bận áo bà ba lụa mỡ gà, tay cầm xấp giấy bạc Con Cò phe phẩy. Đó là tên Cả Mười, tay chân thân tín của Biện Hùm bên chợ Hóc Môn. Hắn cất giọng the the ráo hoán:
“Tôi nói thiệt cho bà con rõ, cái thứ rầy vàng lá này lây dữ lắm, từ Bến Cát tràn qua là coi như hết phương cứu chữa! Mau mau ký tên bán đứt mấy công đất này cho ông Biện, ổng còn vớt vát cho vài chục đồng bạc dằn túi đặng dắt díu nhau đi xứ khác mần ăn. Chần chừ tới mai trầu chết rụi hết, đất thúi rễ hoang tàn, một cắc cũng hổng ai thèm ngó tới đâu đa!”
Anh Tư Tốt tay cầm cây phảng rơm rớm nước mắt, toan vung lưỡi thép chặt phăng gốc nọc trầu đầu bờ:
“Trời đất ơi! Ba công trầu nuôi sống cả nhà, giờ sâu rầy cắn phá thế này thì lấy gì đong gạo nộp thuế điền địa đây!”
“Dừng tay lại, chú Tư!”
Tiếng thét đanh gọn của cụ Ba Hòa vang lên giữa bờ liếp khiến anh Tư Tốt khựng phảng, giật mình quay ngoắt lại. Cụ Ba chống gậy bước lên liếp đất nhão nhoét, dáng người gầy guộc nhưng sừng sững như cây cau già vượt bão. Cụ tiến thẳng lại gốc trầu vàng vọt, không thèm liếc nhìn tên Cả Mười lấy một cái. Cụ quỳ một chân xuống bùn, ngón tay sần sùi cẩn thận nâng một chiếc lá úa lên xem xét.
Dưới nách lá và kẽ gân tơ, từng đám muội đen li ti bám dày đặc, ken đặc những con rầy mềm nhỏ xíu như hạt cát đang cựa quậy. Cụ Ba đưa đầu ngón tay miết nhẹ đám rầy, đưa lên mũi ngửi rồi vốc một nắm đất nơi cổ rễ bóp chặt. Nước bùn chua xót rịn qua kẽ tay. Cụ ngẩng đầu nhìn quanh bà con đang đứng run rẩy, ôn tồn cất giọng rành rọt:
“Bà con đừng có hoảng mà trúng kế phường gian manh! Trầu này hổng phải mắc dịch rầy lạ lùng chi hết ráo. Đây là chứng rầy mềm sinh sôi bởi mưa dầm dai dẳng, lại thêm mấy bờ mương bị rác rưởi bồi lấp làm nước ứ đọng, rễ trầu bị ngộp thở sinh ra thối gốc, lá mới úa vàng. Đất xứ mình ba đời nuôi trầu cau, rễ bám sâu vào phù sa mầu mỡ, sao nỡ vội đốn bỏ giao đất cho đồn điền cao su?”
Tên Cả Mười quắc mắt, gõ gõ xấp giấy bạc lên lòng bàn tay, cười khẩy:
“Cụ Ba nói nghe ngon ơ quá! Cụ già rồi, biết trầu cau rớt giá với dịch bệnh ghê gớm cỡ nào hổng? Có giỏi thì cụ cứu giùm cả xóm này coi, hay là nói suông đặng kéo nhau chết đói hết ráo?”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…