Khúc Gỗ Vông Đồng Gác Đỉnh Hàn Long
Chương 6: Mộng Cũ Bát Phong
Đầu ngón tay nứt nẻ của cụ Cảnh Vạn Hưng khẽ run lên khi chạm vào vết nứt mới toác trên chiếc trâm gỗ vông cài búi tóc bạc. Dưới sân cổng, luồng ánh sáng vàng từ trục gấm kim tuyến của Chấp sự viện vẫn lập lòe tỏa ra thứ uy áp lạnh lùng, tựa như một nhát dao vô hình cắm sâu vào lòng ba ngàn phàm nhân khốn khổ. Tiếng gió bấc quất ràn rạt qua rãnh nứt dưới chân cột, hòa cùng tiếng sụt sùi ai oán của bà con xóm thợ đang dắt díu nhau trở về những mái lều xơ xác.
Cụ Cảnh thở dài một hơi thật khẽ, xoay người bước qua bậu cửa khép hờ, bỏ lại màn tuyết mịt mùng sau lưng để trở vào xưởng mộc.
Gian nhà gỗ im ắng đến rợn ngợp. Ngọn đèn dầu hạt đỗ leo lét trên góc bàn cưa, tỏa ra quầng sáng vàng vọt chỉ đủ soi rõ những lớp mùn cưa vương vãi và hàng đục thép đã mòn vẹt. Cụ Cảnh chống tay lên thành phản, ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ vông nhẵn bóng qua bao năm tháng. Từ dưới đáy chiếc rương gỗ bách cũ kỹ giấu nơi gầm bàn, cụ chậm rãi lấy ra một gói vải thô bọc nhiều lớp đã sờn rách mép.
Cụ nhẹ nhàng gỡ từng nút thắt, để lộ cuốn tàn bản mộc kinh cổ ố vàng, mép giấy xơ tơ và đượm mùi khói bếp ngàn năm. Đây là kỷ vật duy nhất người thầy kỳ nhân phàm trần đã trao cho cụ từ sáu mươi năm trước, vào cái ngày cụ quỳ gối xin học cách dựng nhà che mưa nắng cho người nghèo.
Ký ức xa xăm bỗng chốc ùa về rõ mồn một như dòng suối chảy qua tâm trí lão thợ già. Ngày ấy, vị thầy áo vải không dạy cụ cách dẫn khí nhập đan điền, cũng chẳng dạy ngự kiếm đằng vân, mà chỉ dẫn cụ ra đứng trước một thân cây vông đồng cổ thụ mọc trơ trọi giữa khe đá nứt ngập tràn gió rét. Thầy cầm chiếc bào gỗ, vót từng đường mỏng manh rồi đặt vào tay cụ, trầm ngâm bảo rằng: người đời ai cũng ham chuộng lim, sến, táu bởi sự cứng rắn nghìn cân, nhưng giữa nơi cùng cực băng hàn, chính thứ gỗ xốp rỗng này mới là báu vật giữ ấm cho muôn loài.
Từng trang tàn bản mở ra dưới ánh đèn dầu mờ ảo. Những hình vẽ sơ đồ mộng ngậm, mộng mang cá, mộng đuôi én đan cài chằng chịt hiện lên sống động. Đó chính là tinh hoa của thế mộng “Bát Phong Bất Động” — triết lý mượn lực hóa lực, không dùng lấy một chiếc chốt kim khí, chỉ cậy vào độ xốp mềm, co giãn tự nhiên của thớ gỗ để chống chọi lại cái cứng rắn, băng giá và tàn khốc của đất trời. Gỗ cứng thì gãy, gỗ xốp mà biết đan kết thành giàn thì muôn ngọn gió độc hay ngàn cân đá sạt cũng phải tiêu tán xung lực dọc theo từng khớp mộng rỗng.
“Ông Cảnh ơi…”
Tiếng gọi khe khẽ kèm theo tiếng cánh liếp rung lên lạch cạch kéo cụ Cảnh rời khỏi dòng hồi tưởng. Ninh Chi bưng một chiếc bát sành mẻ miệng bước vào, mang theo làn khói nước gừng ấm nồng xua đi phần nào cái lạnh buốt thấu xương trong xưởng. Đôi mắt con bé đỏ hoe, khóe môi cắn chặt hằn lên những vệt máu khô chưa tan hết vẻ giận dữ.
“Cháu vừa sang dặn A Lục huynh đun thêm nồi nước vỏ trấu cho bác gái ngâm chân,” Ninh Chi đặt bát nước gừng nóng xuống mép bàn cưa, hai bàn tay mảnh khảnh siết chặt lấy vạt áo tơi rách bươm, giọng nghẹn lại vì uất ức: “Ông Cảnh, đám tiên nhân nội môn thật tàn độc! Bọn họ ngự trên mây cao, hít linh khí trời đất mà lòng dạ còn lạnh buốt hơn cả băng tủy Hắc Nham Hạp. Ba ngàn con người dưới Tạp Dịch Khư này nhịn đói nhịn rét phục dịch đan phòng cho họ suốt mấy đời, nay họ muốn cướp đất luyện đan là đuổi sạch ra ngoài trời đông giá rét. Cháu… cháu không cam lòng! Dù phải liều mạng, cháu cũng sẽ cùng bà con xóm thợ bám trụ ở đây đến cùng!”
Cụ Cảnh ngẩng đầu lên, nhìn ngọn lửa hờn căm bốc cháy bừng bừng trong đôi mắt trong trẻo của đứa cháu nhỏ mồ côi. Cụ không vội trách mắng, chỉ vươn bàn tay thô ráp, nứt nẻ đầy vết chai sạn xoa nhẹ lên mái tóc tết đuôi sam dính đầy bụi tuyết của thiếu nữ. Hơi ấm từ lòng bàn tay người thợ già như một ngọn lửa nhỏ dịu dàng lan tỏa, xoa dịu đi những run rẩy giận dữ trong lòng con bé.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…