Khung Cửi Tre Già Dệt Ấm Mùa Gió Bấc
Chương 10: Sợi Tơ Bến Bãi
Không chút do dự, Khương Vĩnh Lạc rút hai bàn tay buốt cóng khỏi túi áo chẽn, sải chân chạy ào về phía bãi bồi. Gió sông Trà thổi thốc vào manh áo vá phong phanh buốt rát như châm kim, nhưng trong lồng ngực đứa trẻ sáu tuổi bấy giờ bừng lên một niềm tin mãnh liệt. Phía sau lưng, tiếng Đại Thành thất thanh gọi với cùng nhịp nạng mộc gấp gáp miết trên sỏi đá:
— Lạc nhi! Chạy đi đâu thế con? Coi chừng thụt bùn!
Lạc băng qua dải cỏ may xơ xác, dừng chân trước rặng chuối hột hoang dã vươn cao sừng sững bên mép nước. Mặc cho gió bấc gầm gào vặn xoắn tàu lá rách tả tơi, những thân chuối mập mạp vẫn cắm sâu rễ vào lớp phù sa màu mỡ. Cậu bé vươn đôi tay nhỏ túm lấy một bẹ chuối già khô xác bám sát thân cây, dùng hết sức bình sinh giật mạnh một cái. Tấm bẹ rách toạc ra, để lộ lớp thớ sẫm màu ngả sắc cánh gián bên trong.
Ngồi thụp xuống mô đất, Lạc bóc tách từng lớp màng xơ mục ngoài cùng. Dưới lớp vỏ giòn vụn, những thớ sợi dọc hiện ra, ken chặt vào nhau như những đường gân bò đanh chắc. Cậu chọn lấy một tao sợi dày bằng thân tăm, quấn quanh ngón trỏ rồi dùng cả hai tay kéo căng hết cỡ. Thớ sợi căng phồng, bật lên tiếng trầm đục nhưng tuyệt nhiên không hề đứt đoạn, chỉ khẽ siết chặt lấy ngón tay cậu.
Đúng như Lạc dự liệu, thớ xơ tự nhiên trong thân chuối hột dại vốn dai bền vô song, chịu được lực kéo dập gấp nhiều lần thứ sợi đay mỏng manh ngoài chợ.
Lúc ấy, Đại Thành cũng vừa chống nạng thở dốc bước tới. Nhìn thấy con trai ngồi bệt giữa đám cỏ hoang lạnh buốt, tay mân mê mẩu bẹ chuối mục nát, anh vừa xót xa vừa ngơ ngác:
— Lạc nhi, con làm cha sợ thót tim. Giữa cữ gió rét buốt thế này, con chạy ra bới bẹ chuối làm chi?
Lạc ngẩng đầu nhìn cha, đôi mắt to đen láy ánh lên tia nhìn quả quyết:
— Cha nhìn xem, sợi bẹ chuối này dai như dây da vậy! Lũ người nhà Bá Hộ Đặng cậy tiền phong tỏa phường đay, tưởng dồn được cha con mình vào đường cùng. Nhưng ba sào đất bãi bồi hương hỏa tổ tiên để lại, báu vật giữ nhà nằm ngay ở đây chứ đâu xa!
Đại Thành buông một tay vịn nạng, đón lấy dải bẹ chuối từ tay con. Anh dùng những ngón tay thô ráp chai sần thử bấu vào thớ xơ, nhưng rồi lại lắc đầu thở dài:
— Khổ thân con tôi, túng quẫn quá mà nghĩ quẩn rồi. Bẹ chuối dại này bện thừng kéo thuyền thì được, chứ đem dệt sao nổi? Nó vừa cứng vừa giòn, lại đầy chất nhựa chát đắng. Hễ gặp nước thì rữa mục, khô hanh lại gãy vụn ra từng mẩu. Mắc lên go cửi, khổ gỗ nghiến dập một nhát là nát bấy ngay thôi con à.
— Đó là vì người ta chưa biết cách thuần nó thôi cha! — Lạc đứng thẳng dậy, giọng nói trẻ thơ rành rọt từng tiếng. — Thớ chuối vốn ngậm chất nhựa chát và màng dính của thân cây nên mới khô cứng và dễ mủn. Nhưng nếu mình róc lấy phần xơ già, đem đun kỹ trong nồi nước tro bếp đượm than, nước ót mặn mòi của tro sẽ đánh tan hết mọi màng nhớt và chất chát đắng. Khi ấy, bẹ chuối sẽ nhả ra từng mối tơ dẻo dai óng ả, mềm mượt chẳng kém gì tơ tằm mà đanh chắc hơn đay gai gấp bội!
Đại Thành trố mắt nhìn con trai, trong lòng nửa tin nửa ngờ. Một người thợ mộc lăn lộn dãi dầu gió sương gần ba mươi năm như anh, nào từng nghe thấy chuyện lấy tro bếp nấu bẹ chuối thành tơ dệt bao giờ? Nhưng nhìn vẻ chững chạc, ánh mắt kiên định của Lạc, rồi nhớ lại tấm nẹp đệm cói xốp kỳ diệu đã cứu mẹ già đêm trước, ngọn lửa hy vọng trong lòng anh lại âm ỉ bùng lên:
— Thật... thật sự làm được sao con?

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…