Khung Hình Lệch Bóng Phá Kỷ Án Năm Xưa
Chương 11: Lời Khai Dưới Ánh Đèn Đỏ
Lời thú nhận của Phạm Thái Bình rơi tõm vào khoảng không gian ngột ngạt của buồng tối, như một giọt nước lạnh buốt rỏ xuống tảng đá nung. Tiếng thở dốc lập cập của kẻ đồng phạm hòa lẫn tiếng còi tầm xa xăm vọng lại từ phía nhà máy in bên hồ Tây.
Văn Nhật Quang khẽ thở hắt ra một hơi dài. Một cơn đau buốt nhói từ bả vai trái giật giật từng cơn theo nhịp đập của mạch máu, hậu quả của cú va chạm dữ dội với thanh sắt đêm qua và cú thúc cùi chỏ ở sân ga Hàng Cỏ. Anh gượng xoay khớp vai, bước chầm chậm lại góc phòng, nhấc chiếc phích Rạng Đông bọc sắt sơn xanh đã tróc sơn vài chỗ. Bằng bàn tay phải vững vàng, Quang rót dòng nước sôi sủi tăm vào chiếc chén sứ mộc cáu màu trà cũ, thả vào đó một nhúm búp chè mạn khô giòn.
Hương trà ấm nồng lập tức bốc lên, xua bớt mùi chua gắt của dung môi hóa chất và mùi khói khét còn bám dính trên các mảng tường vôi nứt nẻ. Quang bưng chén trà nóng, đặt nhẹ xuống mặt bàn trước tầm tay đang run rẩy của Bình.
“Uống ngụm trà cho ấm lại,” giọng Quang trầm tĩnh, không hề có nét thù hằn hay gay gắt. “Ở đây chỉ có sự thật và chứng cứ vật chất. Anh khai hết ra, pháp luật sẽ xem xét sự thành khẩn.”
Bình ngước đôi mắt đỏ ngầu, thâm quầng nhìn Quang. Đôi bàn tay bị khóa chặt bởi chiếc còng số tám bằng thép bóng loáng ngập ngừng vươn ra, run run bưng lấy chén nước nóng rực như vớ được một chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước xoáy. Bình nhấp một ngụm nhỏ, hơi nóng làm giãn bớt những thớ cơ đang co cứng trên khuôn mặt xám ngoét.
Đại úy Nguyễn Quốc Đạt đứng sừng sững bên cạnh bàn dựng, ánh mắt sắc như dao găm soi thẳng vào từng cử động cơ mặt của kẻ đối diện. Anh mở cuốn sổ công tác bọc bìa da nâu, đặt chiếc bút máy Trường Sơn xuống mặt bàn gỗ:
“Khai rõ từng chi tiết! Mười chín tháng tám năm một chín tám ba, Vũ Khắc Khiêm đã đưa cho anh cuộn phim nào, và anh đã thực hiện việc cắt ghép ra sao?”
Bình nuốt khan một ngụm nước chát, giọng run run nhớ lại:
“Hôm ấy mưa lũ dâng ngập trắng triền sông Đáy. Khoảng hơn bốn giờ chiều, đoàn cứu trợ từ trạm hạ lưu trở về trạm phân lũ chính. Khiêm kéo riêng tôi vào góc lán dã chiến, móc trong túi áo mưa ra một hộp nhôm đựng dải phim ba mươi lăm milimét vừa quay. Ông ta bảo đó là cảnh ca nô chở đoàn rẽ sóng kiểm tra cọc tiêu thủy văn, nhưng yêu cầu tôi phải ghép dải phim này vào đầu cuộn phim tư liệu chính thức của xưởng phim, đè vào mốc mười giờ sáng.”
Quang kéo chiếc kính lúp trắc vi lại gần, chỉ đầu ngón tay bọc gạc vào dải phim Orwo trên giá soi:
“Dải phim ca nô mang mã biên ba hai không chín, lệch hoàn toàn với mã bốn năm một tám của dải phim lũ sông Đáy. Có phải anh đã dùng dao lam cạo vát mép phim rồi quét dung môi amyl axetat để dán mộng nối?”
“Đúng… đúng như vậy, anh Quang,” Bình run giọng thừa nhận, không dám ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt người đồng nghiệp kỳ cựu. “Dung môi amyl axetat hòa tan nhẹ lớp đế xen-lu-lô axetat, khi ép chặt bằng kẹp kim loại sẽ tạo thành mối nối phẳng lì rất khó phát hiện bằng mắt thường. Nhưng… đoạn phim ca nô đó có bốn khung hình đầu tiên bị lỗi kỹ thuật đối với Khiêm. Góc máy lia hơi rộng qua mạn thuyền, bắt trúng mặt đồng hồ đeo tay của Khiêm và bóng nắng đổ dài trên mạn gỗ. Khiêm sợ người xem tinh ý sẽ nhận ra bóng nắng chiều muộn, nên đứng kè kè bên cạnh, rút súng ngắn gằn giọng ép tôi phải dùng kéo bấm bỏ đúng bốn khung hình ấy rồi mới được dán nối.”
“Tại sao anh không đốt hủy bốn khung hình đó theo lệnh Khiêm?” Đạt đanh thép hỏi, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn.
Bình run rẩy co rúm hai vai lại, giọng nghẹn ngào:
“Tôi làm nghề dựng phim cả đời, tôi biết Khiêm là kẻ mưu mô tàn độc. Lúc đưa tiền và vàng lá cho tôi, ánh mắt ông ta lạnh tanh như tiền. Tôi linh cảm nếu mình thủ tiêu hoàn toàn vật chứng, một khi mọi chuyện êm xuôi, tôi chắc chắn sẽ bị ông ta cho người trừ khử để bịt đầu mối vĩnh viễn. Tôi cần một cái bùa hộ mệnh để giữ mạng sống cho mình! Lúc Khiêm quay lưng bước ra ngoài nghe điện thoại điều động ca nô, tôi đã nhanh tay nhét bốn khung hình vừa cắt vào túi áo ngực, rồi lấy một mẩu phim vụn đen khác dán đè lên bàn cắt giả vờ như đã cắt nát.”
Quang nén lại cơn nhức buốt ở vai, tiến sát một bước, lồng ngực khẽ phập phồng:
“Hiện giờ bốn khung hình đó đang ở đâu?”
Bình ngước nhìn quanh căn phòng tối mờ ảo dưới ánh đèn an toàn đỏ quạch, như thể sợ bóng ma của Khiêm vẫn đang lẩn khuất đâu đây:
“Tôi cuốn dải phim bốn khung hình đó lại thật chặt, bọc kín bằng một lớp giấy thiếc xé từ bao thuốc lá Thăng Long để chống ẩm, rồi nhét vào trong một chiếc hộp kẽm nhỏ chuyên đựng thấu kính phụ tùng máy ảnh. Chiếc hộp kẽm ấy… tôi giấu kín trong khoang rỗng dưới chân đế của chiếc đèn rọi buồng tối số ba!”
Quang giật mình, trong ký ức lập tức hiện lên hình ảnh chiếc đèn rọi nhãn hiệu Krokus của Ba Lan bằng gang đúc màu xám tro. Đó là chiếc đèn rọi phóng ảnh khổ lớn từng dùng trong phòng kỹ thuật thực nghiệm, nhưng đã bị cháy biến áp và hỏng cuộn dây hội tụ từ mùa đông năm 1982.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…