Khung Hình Lệch Bóng Phá Kỷ Án Năm Xưa

Chương 12: Hành Trình Ba Mươi Cây Số

Tiếng thét thất thanh của Phạm Thái Bình dội ngược vào bốn bức tường quét vôi ẩm mốc của buồng tối. Gã thợ dựng phim đổ sụp xuống nền gạch cạnh chân bàn soi, hai cổ tay bị khóa trong chiếc còng số tám va vào giằng đai sắt phát ra tiếng leng keng khô khốc. Mồ hôi lạnh vã ra trên trán Bình, chảy tràn qua đôi mắt trũng sâu đang giãn to vì hoảng loạn.

Đại úy Nguyễn Quốc Đạt không hề nao núng. Anh sải bước tới cửa ngách, mở hé cánh gỗ và gằn giọng ra lệnh cho người chiến sĩ cảnh sát hình sự đang chốt giữ ngoài hành lang:

“Đồng chí dùng máy điện thoại ở phòng thường trực xưởng phim, báo cáo khẩn cấp về chỉ huy đội! Yêu cầu tổ trinh sát phối hợp ngay với Công an khu vực bến xe Kim Liên rà soát các tuyến đường xe ba gác thu mua phế liệu vừa rời ngõ Hoàng Hoa Thám từ bảy giờ sáng. Phải chặn bằng được chiếc xe chở lô sắt vụn của kho vật tư!”

Người chiến sĩ dập gót chân nhận lệnh, tiếng giày đinh nện gấp gáp trên nền gạch hoa xi măng rồi chìm dần sau làn gió bấc buốt giá rít qua rặng xà cừ ven đường Thụy Khuê.

Quang bước lại gần, cúi xuống đỡ một bên cánh tay run rẩy của Bình. Cơn nhức buốt từ bả vai trái bị chấn thương lại nhói lên theo từng nhịp thở, nhưng ánh mắt anh vẫn giữ trọn vẻ sắc lạnh của người cả đời làm việc cùng các vi vết quang học. Quang kéo chiếc ghế đẩu gỗ nghiến đặt đối diện gã thợ dựng phim, giọng trầm đặc nhưng rành rọt:

“Bình, anh nghe rõ đây. Bãi phế liệu Kim Liên gom hàng theo chuyến, không thể chuyển ngay cả tấn sắt vụn qua cầu Long Biên sang Gia Lâm trong chớp mắt. Nhưng nếu muốn chuộc lại tội lỗi và giữ lấy tính mạng trước khi Khiêm ra tay diệt khẩu, anh phải khai sạch mọi chuyện xảy ra trên triền đê sông Đáy ngày hôm đó.”

Bình ngước nhìn Quang, đôi môi thâm tím run lên bần bật. Gã nuốt khan, gật đầu liên hồi:

“Tôi khai… tôi xin khai hết! Anh Quang, anh Đạt, tôi không dám giấu một lời nào nữa đâu!”

Đạt bước lại bàn làm việc, lấy chìa khóa nới bớt một bên vòng còng, chuyển tay xích của Bình sang chiếc then cài thấp hơn để gã có thể ngồi lên ghế. Quang trải một tờ giấy can khổ lớn lên mặt kính mờ của bàn soi, đặt cạnh chiếc bút chì ngòi mềm hai B. Dưới ánh sáng vàng nhạt hắt lên từ bóng đèn sợi đốt, Quang chỉ tay vào mặt giấy:

“Vẽ lại toàn bộ lộ trình thực tế của chiếc ca nô và các điểm hẹn nhận chỉ thị từ Vũ Khắc Khiêm trong ngày mười chín tháng tám năm 1983. Từng mốc giờ, từng khúc quanh trên sông Đáy!”

Bàn tay chai sạn vì hàng chục năm cầm kéo cắt phim của Bình run rẩy cầm lấy thân chì. Từng nét vẽ xiêu vẹo nhưng chuẩn xác dần hiện lên trên mặt giấy can: trạm phân lũ chính có cọc tiêu thủy văn, ngã ba sông nơi dòng nước rẽ vào đê quai, bến đò ngang bỏ hoang và vị trí lán trại dã chiến của Viện Địa chất nằm cô độc cách trạm ba mươi cây số về phía hạ lưu.

“Sáng hôm đó, trời âm u vần vũ,” Bình bắt đầu kể, giọng khản đặc giữa mùi giấm hãm màu quen thuộc. “Bảy giờ ba mươi, ông Khiêm gọi tôi ra sau lán chỉ huy ở trạm phân lũ. Ông ta đưa cho tôi gói tiền bọc trong giấy báo cùng một chỉ vàng lá, bảo rằng lát nữa ca nô chạy rẽ sóng qua bãi cọc tiêu thì chỉ được quay cảnh toàn, lia máy thật nhanh qua mạn thuyền và bóng người đứng ở mũi, tuyệt đối không được lia vào sát mặt.”

Mai đứng bên cạnh, đôi mắt sau tròng kính cận tròn sáng lên sự căm phẫn. Cô mở chiếc cặp bạt, lấy ra tấm bản đồ trắc địa lưu vực sông Đáy bọc vải dù của Viện trưởng Hoàng Thế Côn rồi cẩn thận trải đè lên mép giấy can của Bình.

“Chú Quang nhìn xem,” Mai chỉ ngón tay mảnh dẻ vào những đường bình độ và ký hiệu trắc quang được người cha quá cố ghi chú bằng mực Cửu Long. “Đây là số liệu thủy văn ngày hôm ấy do chính ba cháu đo đạc trước khi gặp nạn. Dòng lũ sông Đáy dâng cao trên báo động ba, lưu tốc dòng chảy mặt đoạn qua trạm phân lũ đo được từ ba đến ba phẩy hai mét trên giây. Sức nước cuộn xiết vô cùng.”

Quang kéo chiếc kính lúp để bàn lại gần, chăm chú nhìn vào sơ đồ lòng sông kết hợp với lời khai của Bình. Anh ngẩng lên nhìn gã thợ dựng:

“Chiếc ca nô cứu trợ năm ấy là loại gì? Động cơ bao nhiêu mã lực?”

“Là ca nô vỏ nhôm Volga của Liên Xô, lắp động cơ xăng GAZ-53 công suất bảy mươi lăm mã lực,” Bình đáp ngay, trí nhớ của kẻ đồng phạm dường như bừng tỉnh trước nỗi sợ hãi cái chết. “Chiếc ca nô đó do đích thân ông Khiêm điều động riêng từ đoàn xe máy cứu hộ của Bộ về trạm phân lũ từ chiều hôm trước. Thường ngày chỉ có lái tàu quân đội mới được đụng vào, nhưng trưa hôm đó chính ông Khiêm trực tiếp cầm lái.”

Quang cầm chiếc thước thép không gỉ vạch một đường thẳng dọc theo triền sông Đáy trên bản đồ trắc địa. Đầu óc anh vận hành như một cỗ máy phân tích cơ khí chính xác:

“Vận tốc thiết kế tối đa của ca nô Volga trên mặt nước phẳng là bốn mươi cây số một giờ. Khi xuôi dòng lũ với lưu tốc dòng chảy mặt hơn ba mét trên giây—tương đương khoảng mười một cây số một giờ—chiếc ca nô sẽ nhận thêm lực đẩy cực lớn của dòng nước xiết. Tốc độ thực tế khi xuôi dòng từ trạm phân lũ chính về hạ lưu có thể đạt từ bốn mươi lăm đến gần năm mươi cây số một giờ.”

Mai ghé sát đầu vào mặt bàn soi, ngón tay run rẩy làm phép tính nhẩm:

“Cự ly giữa trạm phân lũ chính và lán địa chất của ba cháu là đúng ba mươi cây số đường thủy. Với vận tốc xuôi dòng khoảng bốn mươi cây số mỗi giờ do phải lựa dòng và tránh bãi cạn, chiếc ca nô…”

“Mất đúng bốn mươi lăm phút,” Quang ngắt lời, giọng đanh lại như thép nguội. “Sau màn kịch quay phim giả vờ lúc mười giờ sáng, chiếc ca nô chỉ cần rời trạm phân lũ vào khoảng mười giờ ba mươi lăm phút. Nó lao xuôi dòng lũ ba mươi cây số và cập vào vụng nước sau lán địa chất lúc đúng mười một giờ hai mươi phút trưa!”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai3
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai3

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…