Khung Hình Lệch Bóng Phá Kỷ Án Năm Xưa

Chương 2: Mối Nối Amyl Axetat

Dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại hai mươi lần, chùm sáng tập trung soi rọi từng chi tiết vi thể trên nền nhựa cellulose acetate trong suốt.

Văn Nhật Quang ghì chặt hai khuỷu tay xuống mặt bàn gỗ lim, các đốt ngón tay dài bọc gạc trắng siết nhẹ quanh núm vặn vi chỉnh tiêu cự. Từng phần mười milimét trôi qua chậm rãi. Trước mắt anh, đường ranh giới ngăn cách giữa hai khung hình không hề bằng phẳng tự nhiên như vết cắt dập cơ học xuất xưởng từ nhà máy Orwo bên Cộng hòa Dân chủ Đức.

Tại vị trí tiếp giáp, lớp nhũ tương xám bạc bị cạo vát một góc nghiêng chừng bốn mươi lăm độ. Phủ đè lên đó là một vệt keo mỏng dính, rìa mép hơi sủi bọt khí li ti và đông cứng lại thành một dải gờ lồi lượn sóng. Sự biến tính nhiệt và dung môi hóa học đã làm nóng chảy một phần bề mặt đế phim, để lại một đường sẹo quang học khúc xạ ánh sáng thành dải màu cầu vồng méo mó.

Đó là dấu vết không thể nhầm lẫn của keo dán phim chuyên dụng pha bằng dung môi amyl axetat.

Loại dung môi este này thường được thợ dựng phim lâu năm gọi bằng cái tên quen thuộc là dầu chuối kỹ thuật. Khi hòa trộn với axeton nguyên chất và một tỷ lệ màng phim bào vụn, nó tạo thành chất kết dính hoàn hảo để nối các đoạn phim âm bản. Kẻ ra tay đã dùng bàn ép mộng phim thủ công, cạo sạch lớp gelatin chứa muối bạc ở mép phim trước rồi phết keo, ép chặt vào mép phim sau dưới áp lực vừa đủ. Tay nghề cắt dán đạt đến độ điêu luyện phi thường, phẳng đến mức khi cuộn phim chạy qua máy chiếu bàn dựng Steenbeck ở tốc độ hai mươi bốn hình một giây, mắt người hoàn toàn không thể nhận ra bất kỳ cú giật hình nào.

Nhưng kẻ đó không thể xóa sạch gờ mép phân tử vĩnh viễn ở cấp độ vi mô. Càng không thể lấp đầy sự đứt gãy cơ học của rãnh xước chạy dọc mép đục lỗ.

Bốn khung hình nguyên bản đã biến mất.

Quang tựa lưng vào thành ghế gỗ, buồng phổi hít một hơi dài nồng nặc mùi giấm chua của axit axetic bốc lên từ chậu tráng hãm màu. Lồng ngực anh thắt nghẽn bởi một luồng khí lạnh buốt giá.

Ở tốc độ ghi hình tiêu chuẩn hai mươi bốn hình một giây của máy quay Konvas dã chiến, bốn khung hình chỉ tương đương với một phần sáu giây đồng hồ. Khoảng thời gian ngắn ngủi đến mức một cái chớp mắt cũng dài hơn. Vậy trong một phần sáu giây định mệnh ấy, chiếc máy quay tài liệu trên mạn ca nô cứu trợ đã vô tình ghi lại thứ gì khiến kẻ thủ ác phải đánh liều cắt bỏ, rồi tỉ mẩn dán nối lại từng milimét phim nhựa giữa những ngày mưa bão năm ấy?

Ký ức kinh hoàng của ngày 19 tháng 8 năm 1983 lại dội về, rõ mồn một như một vết chém chưa từng lành miệng.

Hôm đó, cơn bão số ba trút xuống miền Bắc lượng mưa kỷ lục. Vùng trũng phân lũ sông Đáy chìm trong biển nước đục ngầu phù sa. Nhưng tai họa lớn nhất không đến từ thiên nhiên. Tại lán trại dã chiến của Viện Địa chất và Khoáng sản dựng bên triền đê đá vôi, cách trạm phân lũ chính đúng ba mươi cây số về phía hạ lưu, Viện trưởng Hoàng Thế Côn bị sát hại dã man. Một cú đánh chí mạng từ phía sau bằng vật tày kim loại đã làm vỡ hộp sọ nhà khoa học đầu ngành. Cặp tài liệu chứa toàn bộ sơ đồ trắc địa các mỏ khoáng sản quý cùng chiếc hòm gỗ niêm phong mẫu quặng đất hiếm mang mã hiệu NX-83 hoàn toàn biến mất.

Kỹ sư Trịnh Đình Lộc, học trò thân cận nhất của ông Côn và cũng là người bạn đồng niên chí cốt của Quang, bị phát hiện ngất xỉu bên cạnh thi thể thầy mình. Trên chiếc cờ lê sửa máy địa chấn của Lộc dính đầy vết máu trùng nhóm máu của Viện trưởng. Dù Lộc kiên quyết khẳng định mình bị ai đó đánh lén từ sau gáy khi vừa bước vào lán kiểm tra dụng cụ, nhưng trước những bằng chứng vật chất hiển hiện, tòa án đã tuyên phạt anh bản án mười lăm năm tù giam vì tội danh giết người cướp tài sản nhà nước.

Năm năm qua, Lộc mòn mỏi trong trại giam với đôi bàn tay chai sạn vì lao dịch khổ sai.

Trong khi đó, kẻ bị nghi vấn nhiều nhất thời điểm ấy lại là Vũ Khắc Khiêm, Trưởng đoàn cứu trợ bão lũ của Bộ, người chịu trách nhiệm phân bổ ngân sách và thiết bị vật tư cho đợt khảo sát mỏ. Nhưng Khiêm đã bước ra khỏi mọi vòng điều tra một cách ngoạn mục, đàng hoàng leo lên chiếc ghế Vụ phó Vụ Kế hoạch - Vật tư đầy quyền lực.

Lá chắn vững chắc nhất bảo vệ Khiêm chính là cuộn phim Orwo 35 milimét này.

Biên bản lưu trữ của Xưởng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương xác nhận: vào đúng mười giờ sáng ngày 19 tháng 8 năm 1983, Khiêm đang đứng trên chiếc ca nô cứu trợ số 04 vượt lũ qua trạm phân lũ chính, chỉ đạo phân phát lương thực cho đồng bào. Từ trạm phân lũ đến lán dã chiến của Viện Địa chất cách nhau ba mươi cây số đường đê lầy lội, giao thông chia cắt hoàn toàn vì nước lũ dâng ngập bờ tràn. Không một phương tiện đường bộ hay đường thủy nào có thể vượt ba mươi cây số hiểm trở ấy trong vòng nửa giờ để gây án rồi quay về.

Thước phim tài liệu chiếu trên bản tin thời sự toàn quốc năm ấy đã trở thành chứng cứ ngoại phạm bằng sắt thép. Không ai nghi ngờ một hình ảnh chân thực được ghi lại bởi ống kính máy quay nhà nước.

Cho đến hôm nay, khi góc bóng nắng đổ lệch 14 độ và mối nối amyl axetat bị phơi bày dưới ánh đèn buồng tối của Quang.

Nếu cảnh quay ca nô thực tế diễn ra vào buổi chiều muộn, sau mười bốn giờ như góc chiếu mặt trời chỉ điểm, thì bức màn ngoại phạm của Khiêm hoàn toàn sụp đổ. Khiêm có trọn vẹn cả buổi sáng và buổi trưa để xuất hiện tại lán trại địa chất dã chiến, ra tay sát hại Viện trưởng Côn, đoạt lấy mẫu quặng NX-83 rồi mới thong dong di chuyển ba mươi cây số đường thủy xuôi dòng về trạm phân lũ dàn dựng cảnh cứu trợ.

Quang rời mắt khỏi kính hiển vi, bước chầm chậm về phía chiếc bàn làm việc bằng gỗ thông mộc góc phòng. Căn phòng tối chỉ leo lét ánh đèn an toàn màu đỏ sẫm, phủ lên gương mặt gầy guộc của anh những mảng sáng tối lạnh tanh.

Ngón tay Quang khẽ run khi anh rút chùm chìa khóa con cài ở thắt lưng, tra vào ổ khóa rỉ sét của ngăn kéo cuối cùng.

Cạch.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả ai3
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

ai3

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…