Khung Hình Lệch Bóng Phá Kỷ Án Năm Xưa
Chương 4: Vết Cào Khung Cửa Sổ
Quang giật tung then cài, đẩy mạnh hai cánh chớp gỗ có bản lề rỉ sét. Gió đông bắc buốt rát thốc vào mặt, mang theo hơi ẩm mốc ngoài ngõ hẹp. Anh nhoài người qua chấn song, căng mắt nhìn theo tiếng động. Dưới ánh đèn đường vàng vọt trên cột điện xi măng, mặt đường lát gạch ngập lá xà cừ chỉ còn vài vũng nước đọng loang loáng. Bóng kẻ rình mò đã biến mất sau khúc quanh dẫn ra dốc Tam Đa.
Quang đóng sập cánh chớp, gài chốt sắt rồi kéo thêm then ngang phía dưới. Căn phòng tối trở lại với khoảng sáng đỏ quạch từ chiếc bóng đèn an toàn mười lăm oát treo trên trần.
Mai nép sát góc bàn dựng, hai tay ôm chặt cuốn nhật ký bọc da bò trước ngực. Gương mặt cô gái trẻ tái nhợt, đôi môi mím chặt không giấu nổi vẻ hoang mang:
“Chú Quang... liệu có phải người của Vũ Khắc Khiêm không?”
“Chưa thể khẳng định, nhưng chúng ta đã bị để mắt tới,” Quang nói, giọng trầm xuống đầy cảnh giác. Anh đưa mắt nhìn dải phim Orwo 35 milimét trên bàn dựng Steenbeck: “Buồng tối này không còn an toàn nữa. Kẻ đứng trong bóng tối sẵn sàng làm mọi cách để tiêu hủy cuộn phim trước khi sự thật bước ra ánh sáng.”
Không chần chừ, Quang với tay lấy một lõi phim nhựa trên giá, quấn cuộn phim hỏng vào đó để nghi binh trên mâm quay bàn dựng. Với cuộn phim Orwo năm một chín tám ba, anh bọc kín trong giấy dầu chống ẩm, đặt vào hộp sắt tròn tráng kẽm sơn màu xanh bộ đội rồi cất sâu dưới đáy hòm đồ nghề gỗ nghiến.
Trước khi khóa hòm, Quang giữ lại đoạn phim dài nửa mét chứa trọn vẹn mối nối dán keo amyl axetat và bãi cọc tiêu thủy văn. Giác quan nghề nghiệp thôi thúc anh phải làm sáng tỏ thêm một nghi vấn vật lý cốt lõi trên bề mặt dải phim 35 milimét.
“Cháu Mai, lại đây,” Quang khẽ gọi, tay lấy bông tẩm cồn lau mặt kính phản xạ của chiếc kính hiển vi quang học. “Chú cần cháu quan sát cùng chú một dấu vết cơ học mà mắt thường hay kính lúp thông thường không thể nhận diện.”
Quang đặt đoạn phim vào kẹp tiêu bản, vặn mâm xoay chuyển sang vật kính phóng đại một trăm lần. Ánh đèn rọi chiếu xuyên qua lớp nhũ tương xám bạc. Ngón tay bọc gạc trắng rà nhẹ trên ốc vi cấp, chỉnh tiêu cự cho đến khi toàn bộ vi cấu trúc bề mặt hiện lên sắc nét.
“Trong kỹ thuật quay cơ khí dã chiến, mỗi máy quay đều để lại dấu ấn riêng biệt,” Quang giải thích cặn kẽ. “Dòng máy Konvas dùng cơ cấu khung cửa sổ phơi sáng bằng thép tôi. Khi kéo phim ở tốc độ hai mươi tư hình trên giây, mép cửa sổ thép cọ xát vào nhũ tương và rãnh đục lỗ, tạo ra những vệt xước vi thể chạy dọc. Những vết cào này tương tự đường khương tuyến trong nòng súng, không máy nào giống hệt máy nào.”
Mai nghiêng người, nín thở áp mắt vào thị kính theo hướng dẫn của Quang.
Dưới độ phóng đại một trăm lần, thế giới vi mô phơi bày trần trụi. Chạy song song với hàng rãnh đục lỗ ở mép dải phim là một đường xước vi thể mảnh như sợi tơ nhện nhưng sắc gọn, hằn sâu vào lớp nhũ tương bạc.
“Cháu nhìn thấy vết xước dài chạy dọc mép phim rồi,” Mai thì thầm. “Nó chạy rất thẳng...”
“Bây giờ hãy nhìn tiếp về phía mối nối dán keo,” Quang xoay nhẹ núm dịch chuyển bàn tiêu bản. “Hãy để ý vị trí lớp nhũ tương bị cạo bỏ để bôi dung môi amyl axetat.”
Mai khẽ thốt lên. Qua thị kính, đường xước vi thể sắc nét kia đột ngột đứt gãy ngay sát mép cắt cơ học. Phía bên kia mối nối, dải phim ca nô rẽ sóng lướt qua bãi cọc tiêu không hề có vết cào quen thuộc ấy. Thay vào đó, ở mép đối diện lại xuất hiện hệ thống hai đường xước vi thể song song nông hơn, lệch tâm đúng không phẩy một lăm milimét.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…