Khung Hình Lệch Bóng Phá Kỷ Án Năm Xưa
Chương 6: Khảo Sát Bờ Đê Sông Đáy
Lời cảnh báo sắc lạnh của Đạt như kết đọng lại thành tảng băng giữa buồng tối nồng nặc mùi giấm hãm màu. Quang nhìn thẳng vào đôi mắt trinh sát cương nghị của người chiến sĩ hình sự, ngón tay dài dính vệt ố vàng hóa chất khẽ siết chặt mép bàn soi phim. Suốt năm năm đằng đẵng, Trịnh Đình Lộc đã cạn kiệt tuổi xuân sau chấn song buồng giam vì một bản án oan nghiệt; chút hiểm nguy rình rập này sao có thể ngăn anh tìm lại sự thật?
“Tôi hiểu,” Quang đáp, giọng trầm đặc và dứt khoát. “Nếu chúng ta chùn bước vì sợ hãi, bốn khung hình bị đánh cắp ấy sẽ vĩnh viễn nằm trong bóng tối, và kẻ sát nhân sẽ ung dung ngồi trên chiếc ghế quyền lực. Chúng ta không có đường lùi.”
Đạt gật đầu, ánh mắt ngời lên sự tin cậy tuyệt đối. Ba người nhanh chóng thu dọn hiện trường. Cuộn phim Orwo 1983 gốc được bọc kín trong giấy dầu chống ẩm, cất sâu vào hộp sắt tráng kẽm dưới đáy hòm đồ nghề gỗ nghiến khóa chặt hai ổ gang.
Năm giờ sáng hôm sau, sương mù mùa đông phủ một màn xám đục lên từng mái ngói cổ kính của Hà Nội. Chiếc xe máy Simson màu đỏ của Đạt nổ máy giòn giã, xé toang màn sương buốt giá rời khỏi nội thành. Phía sau gác-ba-ga, hòm gỗ chứa chiếc máy kinh vĩ quang học và bộ thước đo góc bằng thép không gỉ được chằng buộc kỹ lưỡng bằng dây cao su dù. Quang ngồi sau, hai tay giữ chặt chiếc cặp bạt sờn mép chứa cuốn sổ tay ghi chép thông số và tập nhật ký thực địa bọc da bò của cố Viện trưởng Côn.
Vượt hơn sáu mươi cây số đường quốc lộ Một gồ ghề đầy ổ gà trong cơn gió bấc hun hút rát mặt, chiếc xe đến thị xã Phủ Lý lúc tám giờ sáng. Tại bến xe khách trung tâm, Hoàng Thị Mai trong chiếc áo khoác bông màu xám tro, quàng khăn len đỏ đã đứng chờ sẵn sau chuyến xe ca sớm. Nhóm điều tra nhanh chóng hội quân, cùng nhau tiến về triền đê sông Đáy thuộc địa phận Hà Nam Ninh, nơi đặt trạm phân lũ chính năm xưa.
Mặt đê sông Đáy mùa đông lộng gió, hanh hao và vắng lặng. Bên dưới chân đê, dòng nước mùa kiệt lững lờ trôi, để lộ những bãi bồi phù sa nứt nẻ. Nhưng hệ thống cọc tiêu bê tông đo ngập lụt cắm sâu giữa lòng sông vẫn đứng sừng sững, thân cọc vạch ngấn rêu phong đánh dấu các mốc nước lịch sử năm 1983.
Quang cùng Đạt khiêng chiếc chân ba chạc bằng gỗ lim đặt vững chãi trên đỉnh mái taluy đê. Đôi bàn tay Quang thao tác với chiếc máy kinh vĩ quang học vô cùng thành thục. Anh cẩn thận vặn từng ốc vi chỉnh, đưa bọt thủy chuẩn vào chính giữa vòng tròn đồng tâm, hướng ống ngắm quang học thẳng về phía đỉnh cọc tiêu thủy văn nhô trên mặt nước.
“Cháu giữ bảng tra cứu góc phương vị và la bàn địa chất,” Quang quay sang bảo Mai.
“Vâng, chú Quang.” Mai trải phẳng cuốn sổ ghi chép lên mặt hòm gỗ.
Quang nhìn chiếc đồng hồ Liên Xô đeo tay: đúng mười giờ sáng. Mặt trời đầu đông nhợt nhạt le lói sau tầng mây mỏng, đủ để in rõ vệt bóng đen của chiếc cọc tiêu trên mặt nước lấp loáng.
Quang nheo mắt áp sát thị kính, ngón tay xoay nhẹ vành khắc độ:
“Góc phương vị của mặt trời hiện tại là một trăm ba mươi lăm độ đông nam. Góc cao mặt trời đạt ba mươi mốt độ. Bóng cọc tiêu đổ dài xiên về hướng tây bắc.”
Mai nhanh chóng đối chiếu các thông số vào bảng tra cứu thiên văn năm 1980 và nhật ký của cha:
“Trùng khớp hoàn toàn với quy luật nhật quỹ! Vào ngày mười chín tháng tám năm một chín tám ba, ở đúng tọa độ trắc địa này, nếu trời có nắng lúc mười giờ sáng thì mặt trời bắt buộc phải nằm ở góc đông nam, bóng cọc tiêu trên mặt nước dứt khoát phải đổ về phía tây bắc!”
Quang mở chiếc cặp bạt, lấy bản ảnh chụp phóng đại khung hình phim Orwo năm 1983 đặt cạnh thị kính máy kinh vĩ:
“Nhưng hãy nhìn vào thước phim lưu trữ. Trong cảnh ca nô rẽ sóng được đóng dấu ghi hình lúc mười giờ sáng, bóng chiếc cọc tiêu thủy văn lại in nghiêng về hướng đông bắc, lệch tới mười bốn độ so với phương vị thực tế. Về mặt vật lý quang học, để bóng một vật thể thẳng đứng đổ sang hướng đông bắc, nguồn sáng chỉ có thể nằm ở góc tây nam bầu trời. Điều đó đồng nghĩa với việc mặt trời đã đi qua kinh tuyến địa phương từ lâu. Hiện tượng này chỉ có thể xảy ra sau mười bốn giờ chiều!”
Đạt cúi người ghé mắt vào ống ngắm quang học, rồi nhìn sang bản ảnh phóng đại. Từng thớ cơ trên khuôn mặt rắn rỏi của người điều tra viên siết chặt lại:
“Thực nghiệm hiện trường đã khẳng định chắc nịch. Không một kẻ nào có thể bẻ cong quy luật quang học của tự nhiên. Đoạn phim ca nô này được quay vào buổi chiều rồi cắt ghép, ngụy tạo thời gian bấm máy mười giờ sáng để tạo ngoại phạm giả cho Vũ Khắc Khiêm!”
Ghi chép xong các thông số trắc địa vào biên bản thực nghiệm, nhóm điều tra tiếp tục di chuyển dọc theo triền đê sông Đáy đúng ba mươi cây số về phía hạ lưu. Càng đi xa, mặt đê càng hẹp lại, cỏ may cào xước vào ống quần bạc màu của Quang.
Gần mười hai giờ trưa, họ tiếp cận một khúc sông uốn lượn có doi cát nhô ra. Dưới rặng phi lao xơ xác bên triền đê là dấu tích hoang tàn của lán trại dã chiến thuộc Viện Địa chất năm xưa. Mái lán đã sập hoàn toàn, chỉ còn trơ lại vài cọc luồng mục nát và nền đất vương vãi gạch đá phủ kín cỏ dại.
Mai đứng lặng trước bậc thềm đất sụt lở, bờ vai khẽ run lên, viền mắt đỏ hoe:
“Chính nơi này... năm năm trước, cha cháu đã ngã xuống...”
Quang bước tới, đặt bàn tay ấm áp lên vai cô gái trẻ:
“Chú hiểu nỗi đau của cháu, Mai. Chúng ta lặn lội về đây hôm nay là để rửa sạch nỗi oan khuất cho cha cháu và anh Lộc. Sự thật nhất định phải được phơi bày.”
Đạt đảo mắt sắc bén quan sát địa hình xung quanh. Cách doi cát chừng năm mươi mét, tại một vụng nước sâu khuất gió, có một chiếc thuyền nan cũ kỹ đang neo mình. Một ông lão chài lưới tóc hoa râm, mặc chiếc áo tơi lá cọ đã rách mép, đang cặm cụi gỡ mớ tép bám trên mắt lưới.
Đạt bước nhanh xuống mép nước, cất tiếng gọi:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…