Khuôn Đất Nung Khắc Chữ Trấn Cố Đô
Chương 12: Lò Cóc Ngậm Khí Núi
Gió bấc từ hốc đá Tràng An thốc qua cửa Hẻm Quỷ mỗi lúc một dữ dội, cuốn theo bụi đá rát mặt quất liên hồi vào phên dậu khiến mái lán dã chiến rung lên bần bật. Trọng Đạt vội bước xéo lên một bước, dang hai cánh tay vạm vỡ toan chắn gió cho ông nội, nhưng cụ Liễu Vĩnh Đôn đã khẽ đưa tay cản lại. Cụ cẩn thận đặt thỏi đất mộc dẻo quánh xuống chiếc nong tre, dặn cháu phủ tấm chiếu ướt lên trên rồi chậm rãi bước về phía miệng hẻm.
Gió lạnh lùa qua tà áo thô bạc màu, thổi tung chòm râu cước của lão thợ già. Cụ Đôn nheo mắt ngước nhìn hai vách đá vôi sừng sững ngút tầm mắt đang vây bọc lấy lòng thung lũng hẹp. Cụ đưa bàn tay gân guốc hứng lấy luồng khí lạnh buốt giá như dao cứa, lắng nghe tiếng rít chuyển hồi vang dội qua từng hang cùng ngõ hẻm của non nước Tràng An. Khí núi từ trên cao đổ dồn xuống khe sâu tạo thành một dòng đối lưu cuồn cuộn, hung hãn khôn cùng. Nếu dựng lò nổi thông thường giữa bãi trống, ngọn gió dữ này sẽ thổi bạt ngọn lửa, làm sụp vòm lò chỉ sau nửa ngày bén củi. Nhưng ngắm nhìn thế núi hiểm trở, đôi mắt nâu trầm của cụ Đôn chợt lóe lên tia sáng rạng ngời.
— Núi cho gió dữ, chính là trời ban cho ta ngọn gió luyện thép, — cụ lẩm bẩm, giọng trầm ấm át cả tiếng rít của hàn phong.
Trọng Đạt bước sát lại gần, dải băng vải thô quấn quanh vết thương sau gáy vẫn còn vương chút bụi than xám. Chàng ngạc nhiên hỏi: — Thưa ông nội, gió quẩn mạnh đến dạt người thế này, nhóm lửa lên chẳng phải tàn tro sẽ bay tứ tán, đất mộc chưa kịp chín đã nứt toác vì lạnh hay sao?
Cụ Đôn quay lại, mỉm cười trước sự sốt sắng của đứa cháu nội. Cụ nhặt một thanh đục thép nhọn dưới đất, ngồi thụp xuống trước phiến đá bằng phẳng nơi cửa lán, bắt đầu vạch từng nét đồ hình dứt khoát: — Con nhìn cho kỹ, — đầu đục thép rạch lên mặt đá phát ra tiếng lạo xạo sắc gọn. — Thế đá nơi đây vững như bàn thạch. Ta không dựng lò đứng hứng gió, mà khoét sâu hàm ếch vào lòng vách núi, đắp nên một chiếc lò cóc ngầm. Cửa đón phong hàn đặt ở sát chân vách đá, vừa khéo hút trọn luồng khí lạnh từ đáy hẻm vào. Gió lạnh xộc vào đáy sẽ ép ngọn lửa bùng mạnh, cuộn tròn dưới bụng lò tựa như bụng cóc nuốt hơi. Cửa xả khói trên đỉnh vách ta mở thật hẹp, chỉ để khói thoát lững lờ. Lửa không có lối bốc thẳng ắt phải quẩn tròn, ủ hơi nóng đều khắp từng viên gạch vồ. Đó gọi là thuật mượn khí núi Tràng An để nuôi lửa vạn niên.
Trọng Đạt chăm chú nhìn những đường nét uốn lượn trên phiến đá, vầng trán rộng giãn ra, ánh mắt sáng ngời vẻ thấu triệt: — Cháu hiểu rồi! Gió dữ hóa thành ống bễ trời sinh, ép ngọn lửa cuộn tròn nung chín ruột gạch!
Vừa dứt lời thì ngoài lối mòn dẫn vào thung lũng bỗng rộn lên tiếng bước chân gấp gáp. Toán tráng đinh cùng mười tay thợ đá thiện nghệ do Trần Đăng cắt cử đã bí mật tiến vào Hẻm Quỷ, người nào người nấy mang theo đục sắt, búa tạ và những giỏ đá ong sẫm màu. Nhìn thấy cụ Đôn quắc thước đứng đợi, người thợ cả vội buông đồ nghề, chắp tay cung kính: — Bẩm cụ Đôn, Trần tướng quân hạ lệnh cho chúng con đem công cụ và đá ong đến đây, toàn quyền nghe cụ sai phái đắp lò. Quân tướng dặn phải dốc hết sức mình phò trợ cụ, không được chậm trễ một khắc việc quân.
Cụ Đôn khẽ gật đầu, khí thế của một bậc đại tượng bách nghệ bừng lên trong từng cử chỉ. Không để lãng phí chút thời gian nào, cụ phân định rành rẽ từng phần việc. Cụ đích thân dùng bột vôi vạch ranh giới vòm lò trên vách đá xám lạnh, chỉ huy thợ đá dùng đục sắt nện từng nhát búa chan chát mở hàm ếch sâu vào lòng núi. Tiếng búa đục vang rền khắp lòng hẻm, át đi tiếng gió gào buốt giá.
Dưới sự chỉ dẫn khắt khe của cụ Đôn, từng khối đá ong thô ráp được lựa chọn kỹ càng, đẽo gọt vuông vức rồi xếp khan so le theo dáng mai rùa khum tròn kiên cố. Để vòm lò chịu được sức nóng khốc liệt suốt bảy ngày bảy đêm, cụ Đôn sai thợ dùng chính thứ bùn sét gan gà bãi Độc Bộ phối với mật mía cô đặc và tro trấu rạ mục ngâm nước vôi trong để làm vữa trát liên kết. Từng kẽ hở giữa các phiến đá được nhồi chặt thứ bùn tam hợp thể dẻo quánh. Đích thân cụ Đôn quỳ gối trên nền đất ẩm, đưa bàn tay đầy vết thẹo bỏng miết phẳng từng tấc bùn nơi vòm trong, không để sót một vết nứt hay lỗ hổng nào. Mỗi khối đá đặt xuống, mỗi thớ bùn miết vào vách đều mang theo tâm nguyện đúc nên thành lũy muôn đời cho non sông.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…