Khuôn Đất Nung Khắc Chữ Trấn Cố Đô
Chương 17: Gạch Đanh Như Gang Thép
Nghe tiếng nổ đanh giòn tựa kim khí rúng động từ sâu trong lòng vòm lò mai rùa, Liễu Vĩnh Đôn không hề nao núng. Cụ đứng ung dung bên bệ đá sát cửa nạp củi, chòm râu bạc phơ khẽ lay động theo luồng gió núi, khóe mắt nheo lại thành những nếp nhăn hiền từ.
Trọng Đạt từ mỏm đá hớt hải lao xuống, gương mặt hãy còn lấm lem tàn tro sau trận vật lộn với Quách Đồ, giọng nghẹn lại: — Ông nội! Tiếng nổ lớn quá... lẽ nào đất mộc lại nứt vỡ trong lò rồi sao ông?
Trần Đăng cũng sải bước dài tiến lại, tay nắm chặt đốc gươm lệnh, đôi mày rậm nhíu chặt đầy lo âu: — Cụ Đôn! Hàng ngàn viên gạch mộc chịu đựng mưa bão suốt bốn ngày đêm, chẳng lẽ đến độ lửa này lại phát nổ?
Cụ Đôn mỉm cười, đôi mắt nâu trầm sâu thẳm ánh lên vẻ điềm tĩnh. Cụ khẽ lắc đầu, đưa bàn tay gân guốc chằng chịt vết bỏng vỗ nhẹ lên mu bàn tay run rẩy của đứa cháu nội, rồi từ tốn quay sang Trần Đăng: — Tướng công chớ vội lo, Đạt con chớ sợ. Già này nung đất cả đời, tiếng nổ nát vụn của bùn tạp vôi sống khác xa tiếng thép va đá thế này. Bùn phù sa lẫn vôi non hễ nổ là phát ra tiếng ục đục ngậm khói, vỡ tan thành tro bụi. Còn tiếng nổ vang lanh lảnh tựa khánh đồng vừa rồi chính là lúc đất gan gà bãi Độc Bộ quyện cùng mật mía già lửa kết tinh đanh chắc tựa gang thép!
Trọng Đạt chớp mắt, nín thở ngước nhìn ông: — Là đất đang kết tinh đanh lại sao ông?
— Phải, — Cụ Đôn ngước nhìn cửa xả khói trên vách đá cao, giọng trầm ấm sang sảng. — Mật mía cô đặc gặp hơi nóng tột cùng thì se chặt từng thớ sét, tro rạ mục ngâm vôi trong mở ra muôn vạn nẻo thoát hơi li ti. Đất gan gà bị luồng phong hàn Tràng An ép chặt ruột gan, đến lúc không thể co ngót thêm được nữa liền phát ra tiếng đanh thép ấy. Đó là tiếng gạch hóa ngọc, gạch thành đồng, chứ tuyệt đối không phải nứt vỡ!
Trần Đăng nghe vậy mới buông lỏng bàn tay nắm đốc gươm, ngực phập phồng trút đi gánh nặng ngàn cân. Toàn thể binh sĩ và phu lò chung quanh cũng nhìn nhau, ánh mắt từ kinh hoàng chuyển sang thán phục khôn xiết trước sự từng trải của lão nghệ nhân già.
Những ngày đêm tiếp theo trôi qua trong bầu không khí trang nghiêm và cẩn trọng tột bậc. Cụ Đôn gần như không rời miệng lò nửa bước, cùng Trọng Đạt luân phiên canh chừng từng nhịp thở của ngọn lửa. Từng thanh củi nghiến phơi nỏ ba mùa trăng được đưa vào đều đặn, ngọn lửa xanh biếc trong vắt cuộn tròn bên trong vòm đá mai rùa, phát ra tiếng rít trầm hùng tựa tiếng cọp gầm nghìn dặm.
Cho đến đúng canh năm của ngày thứ bảy — vừa vặn tròn tám mươi tư canh giờ tôi luyện trong bụng núi non Hoa Lư.
Cụ Đôn đứng trước lỗ dòm, chăm chú quan sát sắc lửa. Làn khói xanh lơ nơi cửa xả khói trên đỉnh núi bấy giờ đã chuyển sang sắc lam nhạt mảnh mai như sợi tơ tằm, rồi dần dà trong suốt, tan biến vào làn sương sớm mùa đông. Vòm đá mai rùa râm ran hơi nóng thuần khiết, không còn một gợn khói đục.
Cụ Đôn hít sâu một hơi khí lạnh của núi rừng Tràng An, chòm râu bạc khẽ rung rinh. Cụ quay sang dõng dạc hạ lệnh: — Đã đủ tám mươi tư canh giờ! Dập lửa, niêm phong cửa gió!
Trọng Đạt cùng toán phu lò lập tức dạ ran. Những xẻng than củi đỏ rực nơi cửa lò được khơi ra, rải lớp tro nguội dập tắt tàn lửa. Theo lời dặn dò tỉ mỉ của cụ Đôn, cánh thợ dùng đá phiến và bùn tam hợp thể trát kín mít cửa nạp củi cùng rãnh dẫn phong hàn dưới chân vách đá. Đó là bí quyết ủ lò ngầm ngàn đời của bách nghệ dân gian: giữ kín hơi ấm để khối gạch nung hạ dần sức nóng theo tuần tự, tuyệt đối không để gió bấc thốc vào làm nguội đột ngột mà sinh nứt vỡ xương gạch.
Sau nửa ngày ủ lò tĩnh lặng, khi mặt ngoài phiến đá niêm phong đã ráo hẳn và chỉ còn âm ấm nơi lòng bàn tay, cụ Đôn mới gật đầu ra hiệu mở lò.
Trọng Đạt cầm xẻng gỗ cẩn trọng nạy từng mảng bùn trát. Cánh cửa lò bằng đá ong hé mở.
Một luồng hơi ấm dịu dàng phả ra ngoài khe núi, quyện theo mùi ngòn ngọt nồng nàn của mật mía thắng già và hương khen khét đượm đà của tro trấu rạ mục. Làn sương mù mờ ảo dần tan đi dưới ánh nắng sớm rực rỡ, để lộ ra khung cảnh kỳ vĩ bên trong lòng vòm mai rùa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…