Khuôn Đất Nung Khắc Chữ Trấn Cố Đô
Chương 2: Lão Thợ Bên Sông Đáy
Nắng chiều tà buông sắc đỏ ối xuống khúc sông Đáy êm đềm, nhuộm thắm cả vạt lau sậy ven bãi bồi xóm gốm. Dưới mái lều tranh nép mình bên chân đê, cụ Liễu Vĩnh Đôn ngồi xếp bằng trên manh chiếu rách, lưng còng cúi rạp bên bệ đất mộc. Bằng động tác thong thả đã thành nếp suốt hơn bảy mươi năm có lẻ, đôi bàn tay gầy guộc chằng chịt sẹo bỏng của cụ nhào miết từng khối đất dẻo quánh, lắng nghe hơi thở mát rượi của dòng nước ngầm thấm qua từng đầu ngón tay chai sạn. Khói bếp nhà ai bên xóm chài bảng lảng bay là đà trên mặt nước, mang theo hương vị ngai ngái quen thuộc của bùn non và rạ ải.
Đột nhiên, từ phía con đường mòn dẫn về kinh đô Hoa Lư, tiếng vó ngựa dồn dập rền vang như sấm động, xé toạc sự tĩnh lặng muôn thuở của xóm bãi.
Bụi đỏ cuốn lên mù mịt giữa rặng tre ngà. Một toán kỵ mã hơn chục người vận giáp da bó sát, tay lăm lăm giáo dài, hộ tống một viên tướng vạm vỡ rẽ màn sương chiều phi thẳng tới bờ sông. Người dẫn đầu ấy chính là Quân tướng Trần Đăng. Trên gương mặt chữ điền phủ đầy bụi gió của vị tướng bốn mươi hai tuổi, nét âu lo cùng gánh nặng quân vụ tựa hồ vẫn còn hằn sâu nơi khóe mắt. Thanh gươm lệnh bên hông va vào bao da phát ra những tiếng khô khốc, sắc lạnh.
Trọng Đạt đang cởi trần gánh hai sọt đất bùn từ mép sông bước lên, thấy toán quân binh rầm rộ ập tới liền giật mình buông đòn gánh, với lấy chiếc xẻng gỗ cắm bên vách đất rồi đứng chắn trước cửa lều, hai mắt mở to cảnh giác. Thân hình vạm vỡ của chàng trai mười chín tuổi căng lên như dây cung, bàn tay siết chặt lấy cán gỗ còn dính vệt bùn ướt. Ngược lại với sự căng thẳng của cháu nội, cụ Đôn khẽ ngẩng đầu lên, ánh mắt nâu trầm vẫn phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, không một gợn sóng kinh hãi.
— Dừng ngựa! — Tiếng Trần Đăng quát to, rền vang át cả tiếng sóng vỗ bờ lau.
Vị tướng quân ghìm cương cho ngựa dừng lại, rồi dứt khoát nhảy phắt xuống đất. Nhìn quanh căn lều chỉ có vài chum vại vỡ và đống bùn ủ ven chân rào, Trần Đăng rảo bước tiến lại gần chõng tre mục đặt trước hiên. Ông đứng nghiêm cẩn, chắp hai tay lại rồi cúi đầu thi lễ thật sâu trước lão nhân râu tóc bạc phơ như cước:
— Trần mỗ đường đột tìm đến nơi thôn dã, mạo phạm thanh tĩnh của Lão trượng!
Cụ Đôn chậm rãi đặt thỏi đất mộc xuống bệ đá, phủi nhẹ lớp bụi xám bám trên vạt áo nâu sồng, từ tốn đáp:
— Tướng công đích thân cưỡi ngựa chiến tìm về chốn đồng lầy hoang vắng này, chắc hẳn quân thành dưới chân núi Mã Yên đang gặp cơn nguy khốn?
Trần Đăng khẽ giật mình trước sự thấu triệt của lão thợ già. Không chần chừ thêm một khắc, ông tháo bọc vải thô đeo bên hông, cẩn trọng mở từng lớp vải rồi đặt vật bên trong lên mặt chõng tre mục.
Đó là một mẩu gạch vồ lớn vỡ nát, các cạnh nham nhở như đá lở, vách gạch rạn nứt chằng chịt những đường chân chim sâu hoắm. Tàn tro xám xịt từ kẽ nứt rơi lả tả xuống mặt chõng tre cũ kỹ.
— Bẩm Cụ Đôn, — Trần Đăng khẩn khoản, giọng trầm xuống đầy cay đắng. — Đại lò của triều đình vừa mở cửa chiều nay, một vạn viên gạch vồ đầu tiên đắp lũy quân thành đã nổ tung thành cám vụn. Giám công Quách Đồ đổ vấy cho chướng khí núi Tràng An ẩm độc, đòi dâng sớ xin triều đình đình hoãn việc dựng thành một đôi mùa, lại muốn mời thợ phương Bắc sang thẩm định. Nhưng Bệ hạ chỉ ban đúng ba mươi ngày hoàn thành phòng tuyến để che chắn hoàng cung và ngăn loạn sứ quân. Ba mươi ngày trôi qua, thành không nên vóc thì đầu của Trần mỗ cùng hàng ngàn phu lò sẽ rơi nơi cửa ải! Đất nước vừa dứt cơn binh đao, giang sơn non trẻ há có thể để mặc giặc dã rình mò? Cúi xin Lão trượng thương lấy vận nước mà xuống núi cứu nguy!
Nghe nhắc đến quân lệnh chém đầu và việc dựng thành hộ quốc, Trọng Đạt đứng bên cạnh bỗng run lên vì xúc động. Thiếu niên mười chín tuổi bước vội vào hiên, nắm chặt lấy tay áo ông nội, giọng sang sảng giục giã:
— Ông nội! Quân tướng triều đình đã đích thân tìm về tận bãi sông thỉnh cầu! Đây chính là lúc họ Liễu ta đem ngón nghề dốc sức vì non sông, lập công cứu lấy hàng ngàn sinh mạng phu lò! Ông mau nhận lời Tướng công đi!
Cụ Đôn không đáp lời cháu. Cụ vươn bàn tay gầy guộc, các khớp xương gồ ghề nhấc mảnh gạch vỡ lên trước mặt.
Đầu ngón tay chai sạn của cụ chậm rãi miết dọc theo vết nứt nẻ. Mặt gạch khô ráp kỳ lạ, những mảng xốp rỗng rộp lên như bánh đa nướng hỏng lửa. Cụ đưa mảnh gạch lên sát mũi, hít một hơi thật sâu để ngửi mùi khét hăng nồng bốc ra từ tim gạch. Đôi lông mày bạc như cước khẽ chau lại. Cuối cùng, cụ dùng móng tay cái cạy nhẹ một mẩu đất cháy xém bằng hạt đỗ, thản nhiên bỏ vào miệng, cắn khẽ rồi dùng đầu lưỡi nếm thử chất đất.
Chõng tre im phăng phắc. Trần Đăng nín thở dõi theo từng cử chỉ của lão nhân, trong lòng hồi hộp tựa hồ đang đợi lệnh xuất quân giữa trận tiền.
Cụ Đôn khẽ nhổ nhúm vụn đất ra nền đất ẩm, lắc đầu cười nhạt:
— Đất thì xốp bở mà vôi thì non lửa. Đem thứ phế vật này ném vào lò rực, gạch không nổ toác ra mới là chuyện lạ đời!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…