Khuôn Đất Nung Khắc Chữ Trấn Cố Đô
Chương 9: Khắc Khí Phách Non Sông
Khối bùn tam hợp thể đỏ thẫm nằm phẳng phiu trên nong tre, bóng bẩy như vóc lụa, phảng phất hương mật mía già lửa quyện cùng mùi tro rạ nồng đượm. Cụ Liễu Vĩnh Đôn chống tay lên mép chõng tre, ánh mắt đăm chiêu nhìn qua khe liếp nứa ra khoảng trời đêm mờ mịt sương giăng trên dòng sông Đáy. Đất quý đã sẵn, lửa lò đã định, nhưng nếu thiếu một chiếc khuôn xứng tầm thì vạn viên gạch nung ra cũng chỉ là những khối đất câm lặng, chẳng thể mang hồn cốt của một giang sơn tự chủ.
Cụ Đôn quay sang đứa cháu nội, khẽ gật đầu:
— Đạt, con ra mé thuyền, mang chiếc rương mây bọc da trâu ở đáy khoang vào đây cho ông.
Trọng Đạt khẽ dạ một tiếng, nhanh nhẹn lách mình qua cánh cửa liếp. Giây lát sau, chàng tráng đinh ôm vào một chiếc rương con đã sờn rách bốn góc, cẩn thận đặt lên phản gỗ cạnh vạc mật của Mụ Cầm. Mụ Cầm lúc này đã mệt mỏi, tựa lưng bên bếp tro ấm thiếp đi từ đầu canh ba, chỉ còn tiếng thở đều đặn hòa cùng tiếng dế rỉ rả ngoài bờ bãi.
Cụ Đôn run run đưa tay mở chiếc khóa đồng xỉn màu. Dưới lớp vải điều đã ngả màu ố vàng, một khúc gỗ thị dài hơn một thước, rộng chừng sáu tấc hiện ra dưới ánh đèn dầu lạc. Thớ gỗ vàng sẫm ánh lên vẻ đanh quánh tựa sừng tê, mịn màng và nặng trĩu. Cụ Đôn đưa những ngón tay gầy guộc vuốt ve mặt gỗ, cảm nhận chất gỗ khô kiệt nhưng bền chắc như gang thép. Khúc gỗ thị trăm tuổi này là kỷ vật duy nhất tổ phụ truyền lại, cụ từng nâng niu giấu kín suốt những năm tháng loạn lạc thời trai trẻ chống giặc phương Bắc để giữ nghề. Vết sẹo bỏng lửa hình lưỡi liềm trên cổ tay cụ khẽ giật giật, như nhắc nhớ về một lời thề son sắt thuở hàn vi.
— Ông định dùng khúc gỗ quý này làm khuôn sao? — Trọng Đạt ghé sát lại, hạ thấp giọng hỏi, đôi mắt ánh lên vẻ ngỡ ngàng. — Đây là báu vật gia truyền của nhà ta cơ mà.
Cụ Đôn ngẩng đầu nhìn cháu, chòm râu bạc khẽ rung:
— Báu vật cất đáy rương thì mãi chỉ là khúc gỗ mục. Nay vua Đinh dẹp loạn dựng nước, quân thành Hoa Lư đang cơn nguy khốn, khúc gỗ thị này phải hóa thân thành khuôn vàng thước ngọc để đúc nên thành đồng vách sắt. Đó mới là trọn vẹn đạo làm nghề của nhà họ Liễu.
Nói đoạn, cụ Đôn bảo Trọng Đạt khêu thêm tim đèn dầu lạc cho ngọn lửa bùng sáng. Lão nghệ nhân tám mươi lăm tuổi quỳ một chân trên chiếc chiếu cói trải giữa nền đất nện, hít một hơi thật sâu. Các khớp ngón tay cụ sau một đêm ngâm nước đầm lầy và cào đất bãi Độc Bộ đang sưng tấy, từng cơn đau nhức buốt nhói chạy dọc theo sống lưng còng. Cụ nén cơn đau, siết chặt chiếc đục thép tôi nước lạnh trong lòng bàn tay phải, tay trái ghì chặt lấy thân gỗ thị.
Cắc! Cắc! Cắc!
Tiếng búa gõ lên cán đục vang lên đanh gọn trong đêm vắng. Từng dăm gỗ mỏng tang, thơm ngát mùi hương trầm cổ kính bay là đà rồi rớt xuống mặt chiếu. Dưới bàn tay lão luyện của người cả đời gắn bó với bách nghệ, khúc gỗ xù xì dần thành hình một chiếc khuôn gạch vồ chữ nhật vuông vức, bốn cạnh thẳng tắp, lòng khuôn sâu đúng ba tấc, thành gỗ dày dặn vững chãi đủ sức chịu ngàn lần nén nện.
Khi mặt đáy trong lòng khuôn đã phẳng lì như mặt gương soi, cụ Đôn dừng tay, lau những giọt mồ hôi đang rịn ra nơi vầng trán nhăn nheo. Đôi mắt nâu trầm của cụ ngưng đọng lại, dồn hết thần trí vào khoảng không gian phẳng lặng của lòng gỗ. Đây là bước sinh tử của người thợ cả: khắc ngược chữ Hán để khi dập vào đất mộc, chữ nung ra sẽ nổi lên vuông vức, kiêu hãnh trên mặt gạch.
Cụ Đôn nhúng đầu cọ tre vào bát mực tàu mài đặc, nắn nót viết ngược từng nét chữ lên đáy khuôn. Những chữ Hán hiện lên sắc sảo, cân đối: “Đại Việt Quốc Quân Thành Chuyên”.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…