Khuôn Ép Bánh Bột Đậu Đập Tan Trò Cân Gian
Chương 2: Cuốn Sổ Giấy Bổi
Tiếng gõ “cộc, cộc, cộc” đanh gọn trên mặt bàn gỗ lim vừa dứt, cụ Ma Thế Toàn chậm rãi thu tay về. Luồng gió bấc ràn rạt thốc qua khe liếp xưởng mộc, cuốn theo đám dăm bào xoay tít dưới sàn đất nện. Ngoài sân, bóng tối cuối đông sụp xuống rất nhanh, nuốt chửng bóng cây thị cổ thụ rồi trùm lên mái ngói rêu phong của trạm thu mua cách đó hai trăm thước. Đốm lửa thuốc lào bên khung cửa sổ trạm lúc này chỉ còn là một chấm đỏ ma quái lập lòe trong màn sương mù xám đục.
Nhìn người phụ nữ trẻ trước mặt vẫn đang run rẩy, bờ vai gầy so lại dưới manh áo bà ba bạc phếch, cụ Toàn thở dài một tiếng xót xa. Cụ đứng dậy, bước lại góc phản gỗ gõ, với chiếc bao diêm Thống Nhất quẹt một que lửa, chong ngọn đèn dầu hỏa hạt đỗ. Ánh sáng vàng vọt, tù mù bùng lên, khẽ phập phồng xua đi cái rét cắt da cắt thịt đang bủa vây gian xưởng.
— Nín đi con, — Cụ Toàn hạ giọng, thanh âm trầm ấm như xua tan nỗi sợ hãi. — Muốn bắt được con sâu đục khoét, trước hết cái đầu phải nguội, bàn tay phải vững. Thằng Lực quen thói cậy quyền nạt nộ, nhưng xóm Bánh này đâu phải chốn không có phép tắc. Có chuyện gì khuất tất, con cứ nói hết cho già nghe.
Chị Thắm quệt vội giọt nước mắt còn đọng trên gò má rám nắng. Đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì giá rét khẽ luồn vào túi trong của chiếc áo bà ba vá chằng đụp. Chị cẩn thận rút ra một vật nhỏ được bọc kỹ trong mảnh bao xi măng đã sờn rách bốn góc. Lớp giấy bọc mở ra, để lộ một cuốn sổ tay con con chỉ nhỉnh hơn bao thuốc lá, ruột bằng thứ giấy bổi màu vàng khè, xơ xác, mép quăn queo như tai nấm mèo.
— Bác Toàn ơi, — Giọng chị Thắm nghẹn ngào, run rẩy đưa hai tay dâng cuốn sổ nhỏ lên trước mặt người thợ già. — Từ hồi nhận chỉ tiêu gia công bột đậu xanh cho Hợp tác xã, con không dám lơ là nửa khắc. Nhà con neo người, con sợ tính toán nhầm lẫn rồi làm thất thoát tài sản tập thể, nên từng lon đậu hạt đường đem về, từng mẻ bột nộp đi con đều ghi chép rành rẽ vào đây suốt sáu tháng qua. Con thề có trời đất soi xét, con chưa từng bớt xén lấy nửa hạt!
Cụ Toàn với chiếc kính lão gọng đồi mồi đã mòn vẹt giắt nơi miệng túi áo, cẩn thận cài lên sống mũi. Cụ kéo chiếc ghế con bằng gỗ nghiến lại gần ngọn đèn dầu, đón lấy cuốn sổ giấy bổi từ tay chị Thắm.
Trang giấy thô ráp mở ra dưới ánh đèn hạt đỗ vàng vọt. Từng dòng kẻ được kẻ ngay ngắn bằng mẩu bút chì cùn, bên trong là những con số, nét chữ viết bằng mực tím Cửu Long hơi nguệch ngoạc nhưng hết sức nắn nót. Đó là nét chữ của một người phụ nữ lam lũ, chắt chiu từng con chữ sau những buổi học bình dân học vụ ban đêm: ngày mùng hai tháng sáu, nhận ba mươi lon đậu xanh, chín cân đường cát; ngày mùng tám tháng sáu, giao nộp mẻ bột thứ nhất...
Cụ Toàn nheo mắt sau tròng kính lão, ngón tay trỏ chai sần rê chậm rãi qua từng cột số. Cụ lần giở từng trang giấy ố vàng, ngược dòng thời gian từ vụ hè sang vụ thu, rồi đến những tháng áp Tết rét căm căm này.
Một tháng trước... hai tháng trước... ba tháng trước...
Đột nhiên, hàng chân mày bạc như cước của cụ Toàn khẽ giật giật. Đôi mắt sáng quắc như sao đêm của cụ dừng sững lại ở một cột ghi chép hao hụt. Đầu ngón tay thô ráp gõ nhẹ lên trang giấy bổi.
Có một quy luật kỳ quái, tinh vi đến mức rợn người ẩn hiện sau những dòng mực tím!
— Con nhìn vào đây, — Cụ Toàn chỉ đầu ngón tay vào dòng chữ ghi ngày rằm tháng chín. — Mẻ bột này con nộp ba cân rưỡi, họ trừ hao hụt bao nhiêu?
Chị Thắm ghé sát mắt nhìn theo ngón tay cụ, lí nhí đáp:
— Dạ... trạm báo thiếu năm lạng hai đồng cân ạ.
— Còn mẻ này, ngày mùng sáu tháng mười, con nộp chẵn hai cân bột?
— Dạ, trạm bảo kim cân chỉ thiếu đúng ba lạng...

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…