Khuôn Ép Bánh Bột Đậu Đập Tan Trò Cân Gian
Chương 7: Bí Mật Rương Gỗ Thị
Chiếc bút máy rơi cạch xuống mặt bàn gỗ, mực tím văng một vệt dài trên tờ biên bản còn ướt nhoẹt. Tiếng cười the thé của Bùi Tấn Lực vẫn còn rền rĩ sau gáy khi cụ Ma Thế Toàn xoay người, vỗ vai chị Thắm đang bủn rủn cả chân tay:
— Đi thôi con. Ở cái sân trạm nồng nặc mùi hách dịch này đủ rồi.
Mặc cho Thân Ký đứng bên cạnh phe phẩy quạt nan cười nhạt, mặc cho đám đông tiểu thương xì xào kinh ngạc lẫn lo âu, cụ Toàn chống gậy tre sải từng bước vững chãi rời khỏi thềm xi măng. Đi sau lưng cụ, chị Thắm ôm chặt thúng bột rỗng, bước chân xiêu vẹo vì vừa thoát khỏi cơn hoảng loạn. Mấy bác thợ làm bánh trong xóm Bánh như thím Bảy, bác Ba thợ cán bột cũng lục tục rảo bước bám theo sau, gương mặt ai nấy đều trĩu nặng âu lo.
Về đến con ngõ đất dẫn vào xưởng mộc, rặng tre ngà xào xạc đón gió bấc lạnh buốt. Dưới vòm lá rậm rạp của cây thị già cổ thụ xòe bóng mát rượi một góc sân, mùi gỗ mộc, mùn cưa quyện với hương đậu rang từ các chái bếp xóm bên phảng phất trong không gian quen thuộc.
Cụ Toàn bước thẳng vào gian nhà chính, khẽ gạt bụi bám trên vạt áo nâu. Việc đầu tiên cụ làm là quẹt que diêm, châm nén nhang trầm cắm ngay ngắn vào bát hương sành trên bàn thờ tổ nghề mộc. Khói nhang màu lam uốn lượn bay lên, tỏa mùi thơm ấm cúng xua đi cái giá buốt cuối đông.
Đứng nghiêm cẩn vái ba vái trước bài vị tiền nhân, cụ Toàn quay lại nhìn mấy người hàng xóm đang đứng lóng ngóng quanh ngưỡng cửa. Chị Thắm hai mắt vẫn còn ngấn nước, lí nhí:
— Bác Toàn ơi, con lo quá... Bác đem cả cơ nghiệp ra đánh cược với chiếc cân sắt tây của chúng nó, lỡ có bề gì thì mẹ con con biết lấy gì đền đáp ơn sâu?
Cụ Toàn khẽ cười, chòm râu cước rung rinh:
— Ơn nghĩa gì lúc này. Già này làm thế không chỉ vì mẹ con cháu Bo, mà là vì cái danh dự của cả cái xóm Bánh này. Cứ vào đây!
Cụ Toàn bước lại góc buồng, nơi đặt chiếc rương bằng gỗ lim già đen nhánh, bốn góc nẹp đồng han rỉ màu thời gian. Chiếc rương ba đời truyền lại này vốn chứa đựng những món đồ nghề quý giá nhất của cụ, ngày thường lũ trẻ trong xóm chỉ dám đứng xa ngắm nghía. Cụ rút chiếc chìa khóa đồng cổ lỗ đeo ở thắt lưng, tra vào ổ khóa lách cách mở nắp.
Từ đáy rương lót lớp vải điều đã ngả màu ố vàng, cụ Toàn kính cẩn nâng ra một chiếc hộp gỗ dài. Khi nắp hộp mở ra, mọi người có mặt trong gian xưởng đều tròn mắt nín thở.
Nằm gọn trong tấm lụa mềm là một bộ khuôn ép bánh bằng gỗ thị vàng ươm, lên nước bóng loáng như sừng, cùng chiếc thước bách phân khảm xà cừ óng ánh từng vạch khắc li ti. Thân khuôn dài chừng hai gang tay, chia đều thành mười ô vuông vức, mỗi ô sâu đúng một lóng tay trỏ. Đáy mỗi lòng khuôn chạm khắc nổi một chữ Phúc sắc nét theo lối chữ triện, bao quanh bởi những đường gờ mảnh dẻ như cánh hoa mai. Đặc biệt, men theo bốn vách thành khuôn là những đường rãnh định tích thẳng thớm, thông hơi ra các lỗ nhỏ xíu bằng đầu tăm ở mặt lưng.
Bác Ba thợ cán bột bước lại gần, ngón tay run rẩy chạm vào mép gỗ trơn láng:
— Trời đất ơi... gỗ thị mà đanh như đá thế này, cháu sống đến ngần này tuổi mới thấy lần đầu! Cụ Toàn ơi, cái khuôn này có từ bao giờ đấy ạ?
— Từ đời cụ cố già này để lại, ngót nghét ba trăm năm rồi, — cụ Toàn vừa nói vừa dùng mảnh vải vụn lau nhẹ bụi phấn trên mặt thước bách phân. — Khúc gỗ thị này xưa kia ngâm dưới đáy bùn ao vôi trọn ba năm ròng rã, rồi đem gác bếp hong khói mười mùa đông cho kiệt nhựa. Gỗ thị ngâm vôi thì trăm năm không mối mọt, nắng nỏ không cong, mưa dầm không ngót. Góc vuông lòng khuôn này là góc vuông tuyệt đối, một ly cũng không sai chạy.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…