Lần Vết Rêu Đỏ Đáy Giếng Đá Ong
Chương 20: Khói hương trên đồi nghĩa trang
Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoạng buông trên ngọn thị cổ thụ, An cảm nhận rõ sức nặng từ bàn tay chai sạn của ông nội đang truyền qua vai mình. Tiếng nước sủi bọt ngai ngái dưới đáy sâu mười lăm mét vẫn rỉ rả dội lên qua vách đá ong, hối thúc từng nhịp tim chàng trai trẻ. Nhìn vào ánh mắt quắc thước mà chất chứa bao âu lo của cụ Sơn, An siết chặt hai bàn tay, cất giọng đanh gọn: “Cháu hiểu rồi, ông nội. Đêm nay cháu sẽ mài lại từng mũi đục dẹp, tôi lại lưỡi nạo sắt và kiểm tra lại đèn chai. Sáng mai đưa bác Lương về nơi an nghỉ xong xuôi, hai ông cháu mình quyết dốc cạn sức khơi cho bằng được dòng nước ngọt cứu lúa cho bà con.”
Cụ Sơn khẽ gật đầu, vỗ nhẹ lên vai cháu nội rồi hai ông cháu rảo bước quay về gian nhà đất ba gian. Suốt cữ tối hôm ấy, dưới ánh đèn hoa kỳ leo lét bên thềm đất, An miệt mài ngồi mài lại từng góc thép. Tiếng đá mài kêu xoèn xoẹt hòa vào tiếng dế giun rả rích trong đêm thu xứ Đoài, đọng lại trong tâm trí người lính trẻ một niềm tin vững chắc vào mạch ngầm quê hương.
Cữ sáng hôm sau, đồi nghĩa trang liệt sĩ xã Đoài Bình chìm trong làn sương thu lành lạnh. Đứng trong hàng ngũ cạnh ông nội và ban quản trị hợp tác xã, An ngước nhìn lên đỉnh đồi rợp bóng thông non và sim cằn. Lá cờ đỏ thêu ngôi sao vàng rủ dải băng đen phấp phới bay trong gió sớm, trầm mặc và thiêng liêng. Toàn thể cán bộ, các đội trưởng sản xuất, hàng trăm xã viên cùng các em học sinh lớp vỡ lòng trong chiếc áo trắng tinh tươm đã tề tựu đông đủ, đứng trang nghiêm quanh huyệt mộ vừa đào đỏ au màu đất son pha sỏi đá ong.
Cỗ áo quan gỗ thơm bọc vải điều phủ lá quốc kỳ đỏ thắm đặt trang trọng trên giá gỗ giữa làn khói hương trầm nghi ngút. Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh bước lên trước bục gỗ, sửa lại vạt áo đại cán bốn túi bạc màu. Khi tiếng loa phóng thanh vang lên rành rọt, từng câu từng chữ trong bài điếu văn truy điệu của Chủ nhiệm Thịnh dội vào lòng An niềm xúc động nghẹn ngào. Lời điếu văn nhắc lại chiến công thầm lặng và khí tiết kiên trung của Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương – người chiến sĩ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ vẹn nguyên mười hai lượng vàng kháng chiến của nhân dân, mang nỗi hàm oan suốt một phần tư thế kỷ dưới lòng sâu lạnh lẽo.
Khi Chủ nhiệm Thịnh trịnh trọng hai tay nâng tấm bằng “Tổ quốc ghi công” còn tươi nét mực son trao cho cô giáo Mai, cả sườn đồi bỗng lặng đi rồi vỡ òa trong tiếng nấc nghẹn ngào. Đứng cách đó vài bước chân, An thấy rõ đôi bàn tay gầy guộc của cô Mai run rẩy đón lấy tấm bằng, ôm ghì vào lồng ngực như ôm trọn sinh mệnh của người anh trai đã khuất. Đôi mắt thâm quầng sau bao năm tủi hờn của cô ướt đẫm khi ngước nhìn lên di ảnh anh Lương đặt cạnh cây bút máy Kim Tinh và chiếc huy hiệu Sao Vàng bằng đồng. Những tiếng sụt sùi nghẹn ngào cùng những giọt nước mắt sẻ chia của bà con làng Đồi Ong râm ran khắp sườn đồi, như lời tạ lỗi chân thành nhất gửi tới người ở lại.
Đến giờ hạ huyệt, An cùng ba đoàn viên tự vệ bước tới nhận nhiệm vụ. Thấm nhuần lời dặn của ông nội về sự cẩn trọng, An luồn hai dải thừng chão chắc chắn qua đáy cỗ áo quan, gồng đôi bắp tay cuồn cuộn ghìm chặt đầu dây để từ từ đưa linh cữu người anh hùng xuống lòng đất mẹ. Từng nhịp thừng hạ xuống êm ái, chuẩn xác. Khi áo quan đã yên vị dưới đáy huyệt sâu, cô Mai chầm chậm bước tới mép đất. Cô rưng rưng đặt một cành hoa thị xanh ngắt lấm tấm hoa trắng li ti ngát hương thơm vừa hái đầu làng lên nắp linh cữu. An nhìn lên gương mặt người cô giáo; khóe mắt cô đẫm lệ nhưng đôi mày u uất bấy lâu nay đã hoàn toàn giãn ra. Gánh nặng nhục nhằn, cay đắng suốt hai mươi lăm năm ròng rã dường như đã tan biến nhẹ bẫng theo từng làn khói hương trầm bay vút lên vòm trời thu trong xanh.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…