Lần Vết Rêu Đỏ Đáy Giếng Đá Ong
Chương 23: Tiếng thở của đá mẹ
Nhìn bờ vai gầy guộc của đứa cháu nội đang căng cứng dưới đáy sâu hun hút, cụ Vệ Thường Sơn khẽ bước tới, đặt bàn tay to bè chai sạn lên lưng An. Đôi mắt già nua của cụ rọi qua ánh đèn chai vàng rực, ngắm nhìn vách đá ong mẹ trơ lì đen sì như một tấm phản gang nguội ngắt. Cụ hiểu nỗi sốt ruột đang cuộn lên trong lòng đứa trẻ vừa rời quân ngũ. Suốt một đêm ròng vật lộn với đất sụt, đẽo từng mộng đá khóa chết miệng ngách địa đạo và nạo từng gầu bùn quặng độc hại, cả hai ông cháu đều đã kiệt sức. Cụ cất giọng trầm đục, ấm áp mà vững chãi:
“Đừng nôn nóng, con. Đá mẹ đã ngậm miệng hàng trăm năm, khoáng sét kết hạch đanh lại như sắt nguội, chẳng thể nào bắt nó nhả dòng trong một chốc. Cứ để lòng đất nghỉ ngơi một nhịp. Giờ theo già này lên bờ đã.”
Cụ Sơn nắm lấy tao thừng số tám, giật ba nhịp dứt khoát làm tín hiệu. Chiếc giỏ mây từ miệng giếng từ từ hạ xuống, đón hai ông cháu lần lượt rời khỏi đáy sâu mười lăm mét.
Khi cụ Sơn vừa bám tay vào bờ đá ong cổ kính ngoi lên khỏi miệng giếng, làn sương sớm mùa thu mát lạnh lập tức phả vào khuôn mặt lấm lem bùn đất. Trời vừa rạng, vòm cây thị trút xuống từng giọt sương mai tí tách. Trên bờ giếng, cảnh tượng trước mắt khiến lòng cụ dâng lên một mối xúc động nghẹn ngào. Hàng trăm xã viên từ đội Một đến đội Bốn không ai bảo ai đã túc trực quanh giếng từ nửa đêm. Tiếng củi nổ lách tách bên ba gian bếp dã chiến, khói rơm quyện với mùi chè tươi thơm ngát cả một góc làng.
Thấy cụ Sơn và An lên bờ an toàn, bà con lập tức ùa tới, người đỡ tay, người trao khăn lau. Một bát nước chè tươi xanh om bốc khói nghi ngút cùng hai củ khoai lang luộc nóng hổi được nhét vội vào đôi bàn tay lạnh buốt của cụ. Tiếng hỏi han rộn rã át cả tiếng gió sớm:
“Cụ thợ cả uống ngụm nước cho ấm bụng!”
“Cửa ngách khóa yên rồi phải không cụ? Đêm qua dưới ấy có rét lắm không?”
Cụ Sơn nhấp một ngụm chè đượm vị chát ngọt, khẽ mỉm cười gật đầu cảm tạ tấm lòng chân chất của bà con. Đúng lúc ấy, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thịnh rảo bước băng qua bãi cỏ đầu làng, chiếc túi cốt lắc lư bên hông áo đại cán bốn túi. Gương mặt sạm nắng của người cán bộ trẻ rạng rỡ niềm hân hoan khó tả. Đi bên cạnh anh là cô giáo Mai trong chiếc áo bà ba màu nâu sòng giản dị.
Thịnh bước tới trước mặt cụ Sơn, giọng sang sảng đầy phấn khởi:
“Báo cáo cụ thợ cả, bà con xã viên! Tôi vừa đạp xe từ huyện về. Đồng chí Trưởng Công an huyện vừa thông báo: Trần Khắc Đạt đã cúi đầu ký vào bản cung nhận tội! Ông ta đã khai rành rẽ hành vi sát hại Đội trưởng du kích Đỗ Trọng Lương để cướp vàng năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, cùng mưu toan lén lút trút vôi đá phá hoại Giếng Cả hòng bịt đầu mối! Viện kiểm sát nhân dân huyện đã hoàn tất toàn bộ cáo trạng truy tố nghiêm minh!”
Tiếng vỗ tay và reo hò của bà con rộ lên vang dội cả sườn đồi. Cụ Sơn quay sang nhìn cô giáo Mai. Người phụ nữ suốt hai mươi lăm năm nếm trải cay đắng, tủi hờn nay đứng lặng dưới bóng thị, khóe mắt ngấn lệ nhưng khóe môi đã hé một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản vô ngần. Ánh mắt cô ngời sáng niềm tin sắt son vào công lý và lẽ phải trần gian.
Thế nhưng, khi tiếng hoan hỉ dần lắng xuống, ánh mắt cụ Sơn lại hướng về phía cánh đồng Đồi Ong trải dài tít tắp. Dưới ánh bình minh nhợt nhạt, những dải ruộng lúa mùa đang thì ngậm đòng bắt đầu héo rũ, lá lúa quăn lại vì thiếu nước dài ngày. Cụ Sơn khẽ thở dài, trong lòng trĩu nặng âu lo. Bản cam kết ba ngày khơi thông giếng ngọt với hợp tác xã nay chỉ còn lại chưa đầy nửa ngày cuối cùng. Cửa ngách đã đóng, tiếng phong tiêu ai oán đã dứt, nỗi oan đã rửa sạch, nhưng nếu không đánh thức được mạch nước ngầm từ tầng đá ong mẹ, vụ lúa mùa nuôi sống hàng trăm miệng ăn sẽ hoàn toàn mất trắng, và lời hứa danh dự ba đời thợ giếng của cụ cũng sẽ vùi sâu dưới đáy giếng hoang.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…