Lão Mõ Cười Nghiêng Bờ Tre Đầu Xóm
Chương 2: Đêm Bãi Bồi Lòng Người Nổi Sóng
Lão Chước vừa cẩn thận cất cuốn Hương ước cổ bọc da trâu vào ống bương nứa rồi gài kỹ lên xà nhà thì ngoài ngõ tre đã rộ lên tiếng bước chân dồn dập. Tiếng chó sủa ran đầu xóm quyện trong tiếng trẻ con khóc thét, tiếng chân người giẫm huỳnh huỵch trên nền đất ẩm phả vào gian nhà tranh một luồng hơi nóng hầm hập của sự hoảng loạn.
Lão thong thả buông vạt áo nâu, bước ra hiên. Dưới bóng tối đen đặc đang phủ dần bờ bãi, ngọn đèn dầu nơi hiên nhà lão như đốm lửa cô độc giữa đồng không mông quạnh. Chẳng mấy chốc, khoảng sân đất nện nhỏ thó đã chật ních bóng người. Bốn mươi nóc nhà xóm Bãi Bồi, từ ông già chống gậy đến mẹ bế con thơ, lục tục kéo đến đông đủ không thiếu một ai. Người ngồi bậu cửa, kẻ nép dưới bóng xoan, gương mặt ai nấy xám xịt như vừa vớt dưới đáy sông Đáy lên.
— Bác Mõ ơi! Phen này xóm mình chết đứng rồi bác ơi! — Bác phó Cối vứt mạnh cái đòn gánh xuống đất, giọng run bần bật. — Năm quan tiền một suất đinh! Nhà tôi ba suất là mười lăm quan, lấy đâu ra bây giờ? Bán cả nếp nhà tre với bầy gà con cũng chẳng bới đâu ra nổi ba quan tiền kẽm. Thôi thì đêm nay cả nhà tôi gói ghém cái nồi đồng với manh chiếu rách, dắt díu nhau trốn ngược lên mạn Đoan Hùng làm thuê cuốc mướn, chứ ở lại làng thì tuần đinh nó xích cổ, đánh cho nát thịt nát xương!
Lời than vãn vừa dứt, cả sân đã dậy lên những tiếng thút thít, thở dài não ruột. Mấy người đàn ông luống tuổi cũng chỉ biết ôm đầu ngồi xổm, mắt đăm đăm nhìn vào màn đêm mịt mùng. Bỏ xứ phiêu bạt là đường cùng, nhưng ở lại thì lấy gì chọi với trát đỏ của quan Chánh tổng?
— Trốn cái mả mẹ nhà anh ấy! Chân đi chưa khỏi lũy tre làng thì đòn mây của lũ tuần đinh nó đã giáng cho gãy ống giang, ở đấy mà Đoan với chả Hùng!
Một giọng nói the thé sang sảng bổ thẳng vào giữa sân làm ai nấy đều giật mình. Bà Ba Đậu đẫy đà, hai tay bưng thúng ngô nếp luộc bốc khói nghi ngút, miệng nhai trầu bỏm bẻm lách qua đám đông bước vào. Bà đặt uỵch cái thúng lên chõng tre, tiện tay bốc mấy bắp ngô nóng dúi vào tay lũ trẻ con đang mếu máo vì đói rét:
— Ăn đi cho ấm bụng các cháu! Cứ việc ăn! Lão Hách hợm bòn tro đãi trấu, cổ dồn ba tầng ngấn mỡ mà lòng dạ hẹp hơn cái lỗ xâu kim. Đình làng sứt một mẩu ngói thì bắt dân ngụ cư nôn ra cả tạ bạc, quân ăn cướp ban ngày chứ tu tạo nỗi gì! Có giỏi thì lão kéo bầy chó săn sang đây cướp luôn cái nồi bún riêu của bà này, xem bà có vác muôi múc giấm ớt tạt thẳng vào cái mặt thớt ấy không!
Tiếng chửi bới bộc trực, không kiêng nể của bà Ba Đậu như ngọn gió xua bớt không khí ảm đạm đang đè nặng. Lũ trẻ cầm bắp ngô ấm sực, đưa lên miệng gặm ngon lành, tiếng nhai ngô giòn rụm lấn át tiếng nấc nghẹn ban nãy.
Lúc này, nơi góc hiên, Bé Cúc đã khéo léo bưng ngọn đèn dầu ra đặt lên chiếc bàn con, cẩn thận lấy manh cói che gió cho ngọn lửa khỏi chao đảo. Bên cạnh nàng, thầy giáo Vượng ngồi ngay ngắn, tà áo vải thô sờn vai tề chỉnh, ngón tay thanh mảnh cầm quản bút lông thoăn thoắt chấm mực tàu lên tờ giấy bổi. Chàng cẩn thận ghi chép từng nhân khẩu, từng suất đinh của bốn mươi nóc nhà, nét mặt nghiêm cẩn đượm vẻ bất bình.
Thấy mọi người nhìn sang, Giáo Vượng dừng bút, ngẩng đầu đĩnh đạc cất lời:
— Thưa các cụ, các bác và bà con. Tiểu sinh vừa tra xét đinh bộ và lệ làng từ các năm trước. Đình làng Trúc Động tu bổ hàng năm vốn trích từ tiền hoa lợi mẫu đất tế điền do tiền nhân để lại, ngặt nghèo lắm mới bổ đầu đinh mỗi suất ba tiền đồng kẽm. Nay Chánh tổng tự ý ban trát đòi năm quan mỗi suất, lại ép riêng xóm Bãi Bồi chúng ta gánh trọn hai trăm quan, ấy là điều vô lý chưa từng thấy trong hương ước. Rõ ràng là mượn cớ tế tự để ép bà con vào chỗ khốn cùng hòng đoạt đất!
— Biết là vô lý nhưng quan có trát, dân lấy gì chống hở thầy giáo? — Một bác nông dân rầu rĩ hỏi.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…