Lớp Đất Sét Niêm Phong Khố Thóc Vạch Mặt Án Mạng
Chương 1: Lửa Cháy Đêm Mưa Dầm
Cắc! Cắc! Cắc! Cắc!...
Tiếng mõ tre liên hồi nện gấp gáp xuyên qua màn mưa dầm dề canh ba đêm rằm tháng Ba, bổ thẳng vào giấc ngủ chập chờn của Cung Hữu Trọng. Lão bật dậy trên chiếc chõng tre ọp ẹp trong chòi rơm sát triền sông Kinh Thầy. Hơi nước buốt lạnh phả qua khe liếp liếm láp làn da mồi nhăn nheo, nhưng cái khiến lồng ngực lão thắt lại không phải cơn gió bấc trái mùa, mà là tiếng la thất thanh vẳng lại từ mạn bến:
“Cháy! Cháy khố thóc Thần Nông rồi! Làng nước ơi, mang gàu múc nước!”
“Khố Thần Nông!”
Lão Trọng thốt lên khan đặc. Ở tuổi một trăm lẻ chín, đôi chân già nua như rễ cọc bỗng bật dậy nhanh lạ thường. Lão với lấy cây gậy tre ngâm nơi đầu giường. Phía ngoài liếp nứa, tiếng bước chân thình thịch đạp nước bì bõm lao tới, kèm giọng hớt hải của Nguyễn Nhược Thu:
“Thầy ơi! Kho lúa huyện phát hỏa rồi!”
“Mau! Dắt ta đến đó!” Lão Trọng dằn gậy xuống sàn đất, giọng đanh róc. Khố thóc dự trữ ấy là phao cứu sinh độc nhất của hàng ngàn hộ dân nghèo Đông Triều suốt mùa giáp hạt này, từng hạt thóc gom góp đều thấm đẫm mồ hôi nước mắt của bà con.
Hai thầy trò lao vào màn mưa mù mịt. Bầu trời đêm phía huyện lỵ đỏ rực một góc, khói đen quyện hơi nước bốc lên cuồn cuộn, nồng nặc mùi vỏ trấu khét lẹt. Đến trước sân khố Thần Nông, cảnh tượng hỗn loạn đập vào mắt lão. Mấy chục dân phu mình trần trùng trục cùng lính tuần đinh đang nhốn nháo chuyền tay nhau từng thùng nước từ bờ kênh hắt xối xả vào góc chái kho. Những cột gỗ lim ken dày cháy sém bốc khói nghi ngút, tàn lửa lẹt đẹt rụng xuống thềm đá ướt sũng. Nhờ đêm mưa dầm trợ sức và gian kho vốn dựng bằng gỗ lim rắn chắc, ngọn lửa góc chái đã bị dập tắt trước khi kịp bén sâu vào mười hai bồ thóc lớn bên trong.
Thế nhưng, điều khiến lão Trọng khựng lại giữa sân không phải vệt than đen trũi, mà là cánh cửa khố thóc.
Hai cánh cửa gỗ lim dày nặng vẫn khép chặt khăng khít. Then cài ngang bằng sắt bọc gỗ bên ngoài vẫn nằm ngay ngắn trong ngàm khóa. Trên khớp then, một tảng bùn đất sét lớn trát kín mít mang dấu triện đỏ sẫm của huyện đường vẫn còn nguyên vẹn, chưa hề có dấu vết cạy mở.
“Lạ lùng...” Lão Trọng nheo đôi mắt sâu hoắm, lẩm bẩm trong chòm râu bạc. Cửa khóa then ngoài, niêm phong còn nguyên, cớ sao lửa lại bùng lên từ bên trong góc chái?
Một bóng người đẫy đà khoác áo đoạn the đen che chiếc ô dầu vội vã rẽ đám lính bước tới. Tri huyện Đỗ Cẩm trán rịn mồ hôi dù trời mưa rét, hàng ria mép chải chuốt giật giật từng chập. Gã vừa thở hổn hển vừa quát tháo the the:
“Đốc lương quan đâu? Khắc Khiêm đâu rồi? Đêm nay hắn trực khố, sao không mở cửa cứu thóc?”
Tiếng gõ cửa rầm rầm của đám sai dịch chỉ đáp lại bằng sự im lìm đặc quánh. Bên trong chái kho chỉ có tiếng tí tách của than tàn sắp lụi.
“Bẩm quan huyện!” Một tên lính tuần đinh run rẩy cúi đầu. “Lúc chúng con chạy tới dập lửa, then ngoài vẫn cài chặt, lớp bùn niêm phong đóng dấu từ chiều hôm qua vẫn còn nguyên xi thế này đây ạ!”
Mắt một mí của Đỗ Cẩm lóe lên tia sáng giảo hoạt, đoạn gã vung tay ra lệnh dứt khoát:
“Phá then! Mau phá then xông vào xem sao!”
Hai tên phu lực lưỡng vung xà beng thúc mạnh. Một tiếng rắc khô khốc vang lên, mảng đất sét phong kín then cửa vỡ toác thành nhiều mảnh rơi lả tả xuống bậc thềm đá. Cánh then sắt bật tung. Cánh cửa gỗ lim nặng trịch vừa hé mở, một luồng khói đen đặc quánh mùi trấu cháy và dầu khét lẹt ùa ra khiến đám đông dạt lùi, ho sặc sụa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…