Lớp Đất Sét Niêm Phong Khố Thóc Vạch Mặt Án Mạng
Chương 2: Mảnh Vỡ Hình Vỏ Sò
Mưa đêm rỉ rả dội xuống mái ngói rêu phong, làm bốc lên hơi nước ẩm ướt quyện cùng mùi tro tàn hăng hắc. Cung Hữu Trọng vẫn ngồi bệt nơi bậc đá xanh ướt lạnh, ngón tay cái thô ráp, nứt nẻ vì cả đời lội bùn đong thóc cẩn thận miết nhẹ qua bờ mép của mảnh đất vừa nhặt được. Từng thớ đất vụn ram ráp cọ vào lớp da chai sạn, mang theo một độ giòn xốp khác thường so với ký ức cả đời gắn bó với kho tàng của lão.
“Cụ Trọng ơi, người ngồi dưới đất lạnh thế này nhỡ nhiễm phong hàn thì sao!” Nhược Thu lo lắng khom lưng, hai tay luồn qua nách đỡ cụ Trọng đứng dậy.
Lão Trọng mượn lực của cậu học trò, tay chống cây gậy tre ngâm, chậm rãi đứng thẳng người lên. Các khớp xương nơi đầu gối kêu lục cục khe khẽ. Trước mắt lão, gian chái kho lim vẫn ngùn ngụt khói cay xè. Đỗ Cẩm đứng giữa hiên sảnh, vạt áo lụa bóng phất phơ theo từng cái vung tay, giọng the thé quát tháo đám phu phen:
“Đứng ngây như phỗng cả lũ thế à? Mau vần cái cáng tre vào khiêng xác quan Đốc lương ra nhà trạm ngoài cổng! Mấy đứa khác đi lấy chổi tre, xẻng sắt dọn sạch tro than chung quanh, gánh nước tạt vào góc cột cho tắt hẳn tàn lửa! Nhanh cái tay lên, nội sáng mai Khâm sai đại thần giá đáo mà thấy cảnh nhớp nhúa bừa bãi này thì bản huyện lột da từng đứa!”
Mấy tên lính lệ răm rắp dạ ran, vội vã khiêng chiếc cáng tre xông xáo tiến vào trong gian kho.
Lão Trọng nheo mắt nhìn bóng dáng Đoàn Khắc Khiêm nằm trơ trọi giữa đám tro tàn, lòng đau như xát muối. Nhưng đôi mắt từng trải trăm năm của lão không dừng lại ở sự tang thương, mà lập tức nhìn xuống mảnh vỡ trong lòng bàn tay. Lão giơ mảnh đất sét lên sát ngọn đuốc trên tay Nhược Thu. Ánh lửa bập bùng rọi rõ từng đường rạn nứt kỳ quặc.
Bốn mươi năm trước, chính tay Cung Hữu Trọng đã tìm ra phương thức pha chế lớp bùn niêm phong then khố thóc cho cả vùng Đông Triều này. Khi ấy, giặc tan, kho tàng lập lại, chuột bọ và hơi ẩm sông Kinh Thầy thường xuyên làm mủn then gỗ, mục lúa công. Lão lặn lội xuống tận đáy sông vớt lớp phù sa dẻo quánh lắng đọng nghìn năm, đem lọc sạch rác bẩn rồi nhào kỹ với bột xơ vỏ cây gai giã mịn, rưới thêm nước tro trấu đặc quánh gạn trong. Thứ bùn ấy khi trát lên then cài, nếu để khô tự nhiên trong gió đồng qua một ngày một đêm, nước rút từ từ thì thớ đất sẽ co ngót đều đặn, bề mặt đanh chắc, xám mịn như đá mài, dẫu dùng dao nạy cũng chỉ mẻ từng mảng phẳng lỳ chứ không bao giờ nứt toác.
Thế nhưng, mảnh bùn niêm phong đang nằm trong tay lão lại hoàn toàn trái ngược với quy luật tự nhiên ấy.
Mặt ngoài của nó rạn vỡ chằng chịt những đường cong vồng lên, nứt toác hình vỏ sò nham nhở. Các mép nứt không bám chặt vào thớ gỗ lim mà vênh ngược ra ngoài như cánh hoa héo gặp nắng gắt. Đáng sợ hơn, ở nơi vết nứt sâu nhất, ruột đất không mang màu xám chì của bùn phù sa đã khô, mà loang lổ sắc đỏ sẫm như gạch non nung dở. Đó là dấu vết không thể chối cãi của việc bùn ướt vừa mới đắp lên đã bị một sức nóng hung hãn từ bên ngoài dí sát vào, cưỡng bức nướng chín cấp tốc trong chốc lát.
“Khoan đã!”
Tiếng lão Trọng cất lên, khàn đục nhưng vang vọng, cắt ngang tiếng hò hét xao xác của đám phu dịch. Cây gậy tre ngâm trong tay lão gõ mạnh xuống bậc thềm đá phát ra tiếng cộc đanh gọn.
Đám lính lệ đang nâng thi thể Khiêm lên cáng tre giật mình khựng lại, dớ dẩn nhìn nhau rồi quay sang ngó chừng quan huyện. Đỗ Cẩm bực bội dậm chân, quay ngoắt người lại, hai con mắt ti hí híp lại lấp loáng vẻ bực dọc:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…