Lửa Lò Tôi Thép Uốn Lại Mệnh Tàn Kiếm
Chương 6: Thanh Kiếm Thép Đầu Tiên
Gió buốt từ đỉnh núi thốc xuống hẻm vực Phế Kiếm Cốc, cuốn theo tàn tro than bay lả tả trong màn sương chiều nhá nhem. Trước ba cỗ xe gỗ chất ngổn ngang một trăm khối phôi sắt nứt toác, đám thợ già mặt mày xám ngoét, đôi chân run rẩy như không còn đứng vững. Từng khối phôi thô đen sì nằm phơi mình dưới gió lạnh, chằng chịt những rãnh nứt sâu hoắm như mai rùa, bốc lên mùi hăng nồng quen thuộc của thứ quặng ngậm lưu huỳnh độc hại.
Tần Sơn ngồi bệt xuống một tảng đá con, bàn tay trái cụt ngón run rẩy vỗ mạnh vào đầu gối, cất giọng khàn đục đầy cay đắng: “Ba ngày... Đúng ba ngày! Vừa phải rèn đủ ba mươi thanh hộ kiếm, vừa phải cứu vãn một trăm khối phôi nứt ngậm độc này! Lão Bào ơi, tên họ Triệu kia rõ ràng không chừa cho chúng ta một con đường sống. Hắn muốn bức tử toàn bộ thợ già tàn tật ở cái xưởng này, gom hết ném vào hầm mỏ Hắc Sơn để bịt đầu mối!”
Mấy người thợ già đứng xung quanh đều cúi gằm mặt. Có người lấy vạt áo rách quẹt ngang khóe mắt, có người siết chặt đôi bàn tay chai sần đầy sẹo bỏng, buông tiếng thở dài thườn thượt. Nỗi tuyệt vọng đè nặng lên gian xưởng xập xệ, u uất như một đám mây đen đặc quánh. Ai nấy đều hiểu rõ quy củ tông môn: phôi đã nứt thì khi đưa lên đe chỉ cần quai vài nhát búa là vỡ vụn ra từng mảnh, lấy đâu ra phép màu để biến phế liệu thành bảo kiếm?
Bào Hoài Viễn đứng lặng giữa sân, đôi mắt sáng quắc dưới đôi lông mày muối tiêu bình thản quan sát từng biểu cảm trên gương mặt anh em thợ thuyền. Ở kiếp trước, lão từng trải qua hơn nửa thế kỷ gắn bó với các viện nghiên cứu và xưởng đúc kim loại, từng xử lý hàng vạn ca biến dạng vật liệu phức tạp hơn thế này gấp bội. Trong mắt những kẻ chỉ biết nương tựa vào linh khí mơ hồ, đống phôi này là đồ vứt đi; nhưng trong mắt một học giả luyện kim thực nghiệm, chúng chỉ là những thỏi sắt đang mang thương tổn cấu trúc, cần được giải phóng tạp chất và sắp xếp lại trật tự liên kết.
Lão bước lại gần, cúi người đặt bàn tay vững chãi lên bờ vai gầy gò của Tần Sơn: “Lão Tần, dẹp nước mắt đi. Ngồi than khóc thì quặng bẩn cũng không tự biến thành kiếm tốt. Đừng để dã tâm của Triệu Hoành Thông dọa cho mất mật.”
Tần Sơn ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt đỏ hoe trừng lớn: “Nhưng ba ngày làm sao đúc kịp ba mươi thanh kiếm? Huống hồ một trăm thỏi phôi này đều rạn nứt từ trong ruột!”
“Ai bảo huynh chúng ta phải đúc mới từ đầu?” Lão Bào khẽ cười, giọng nói trầm ấm mang theo sự ung dung kỳ lạ. “Nếu nhóm lò nấu quặng đúc lại từng thỏi, ba ngày ba đêm không chợp mắt cũng không kịp giao nộp một nửa. Nhưng chúng ta sẽ không nấu chảy, mà trực tiếp chữa lành từng khối phôi này.”
Đám thợ già nghe vậy liền ngơ ngác nhìn nhau. Một người thợ luống tuổi rụt rè lên tiếng: “Cụ Viễn, phôi đã nứt thì gân cốt bên trong đứt đoạn cả rồi. Xưa nay hễ đưa búa vào là vỡ toác, làm sao chữa được?”
“Đó là vì các người chưa nắm được tính nết của sắt.” Lão Bào nhặt một thỏi phôi nứt dưới chân lên, đưa ngón tay miết dọc theo khe rãnh xù xì. “Phôi này nứt không phải do thiếu lửa, mà do ngậm độc khí lưu huỳnh từ quặng bẩn. Khi nung nóng, lưu huỳnh chảy lỏng sớm hơn sắt, biến thành một lớp màng ngăn cách các thớ thịt kim loại dính vào nhau. Các người quai búa lúc nó đang ngậm độc lỏng thì khác nào ép một vết thương hở miệng, nó không vỡ mới là lạ. Muốn cứu nó, trước hết phải dùng bột đá vôi hút sạch lớp độc nổi lên mặt ngoài, sau đó giữ đúng độ ấm vàng rơm để ép các thớ thép ngậm chặt lại. Chỉ cần khử sạch tạp chất và nén đúng lúc, sắt sẽ tự liền da liền thịt.”
Lời giải thích rành rọt, tự tin của lão Bào như một gáo nước mát dội vào chảo lửa đang sôi sục. Tuy đám thợ già chưa hiểu hết nguyên lý sâu xa, nhưng nhìn phong thái điềm tĩnh như núi đá của lão, nỗi sợ hãi trong lòng họ bất giác lắng xuống đôi phần.
Không để thời gian trôi qua vô ích, lão Bào lập tức đứng giữa xưởng cất giọng dõng dạc phân công: “Thời gian cấp bách, chúng ta chia nhau hành động ngay lúc này. Lão Tần, huynh dẫn hai người khỏe tay ra giếng cọ rửa chiếc máng gỗ sồi lớn nhất xưởng, đổ đầy dầu trẩu ấm vào đó rồi hòa thêm hai gáo nước muối đặc. Nhớ kỹ lời ta dặn, dầu phải giữ ấm êm dịu, tuyệt đối không được pha nước lạnh!”
Tần Sơn lập tức đứng phắt dậy, gật đầu lia lịa: “Được, ta hiểu rồi! Giữ ấm dầu trẩu pha nước muối, ta đích thân trông coi máng này!”
Lão Bào quay sang hai người thợ khác: “Hai chú em vào kho lấy cối đá lớn, nghiền mịn chỗ than củi khô dự trữ và sàng thêm một sọt bột đá vôi sống trắng tinh mang lại đây. Nghiền càng mịn, bột càng dễ bắt lấy độc khí trong lò.”
Đám thợ già nghe lệnh liền rầm rập tản ra, mỗi người một việc, tiếng bước chân hối hả xua tan bầu không khí ảm đạm vừa rồi.
Lão Bào quay đầu lại, nhìn thấy A Lục vẫn đang đứng lặng bên bệ đe, đôi bàn tay gầy gò bám chặt vào cán bễ lò, ánh mắt sáng rực đầy vẻ chờ đợi. Vết xước nơi đuôi mắt cậu bé được băng bằng dải vải áo sạch vẫn còn hơi ửng đỏ, nhưng sống lưng đứa trẻ đã ưỡn thẳng tắp.
“Tiểu Lục, lại đây.” Cụ Viễn mỉm cười, vẫy tay gọi đứa trẻ.
Cậu bé lon ton chạy lại, giọng lễ phép: “Bào gia gia, con làm việc gì ạ?”
“Đêm nay, con sẽ là người giữ hồn cho lò số ba.” Lão Bào chỉ tay về phía chiếc lò đất vừa được cải tạo xong buổi chiều. “Lò này ta đã đắp vách đất sét pha cát thạch anh chịu nhiệt, đáy lò có rãnh nan quạt đón gió lốc. Lửa trong lò rất bén, nhưng nhiệm vụ của con là không được để lửa già quá mức. Con phải kéo bễ thật nhịp nhàng, giữ cho than cháy êm, ngọn lửa luôn giữ đúng sắc vàng rơm thuần hậu. Không được để lửa bùng lên trắng lóa, cũng không được để lụn xuống đỏ sẫm. Con có làm được không?”
A Lục nghe lão giao phó trọng trách lớn lao, lồng ngực phập phồng hồi hộp. Cậu bé siết chặt hai nắm tay, cắn môi quả quyết: “Bào gia gia yên tâm! Dù có mỏi rã rời hai cánh tay, con cũng quyết giữ ngọn lửa vàng rơm cho người rèn kiếm!”
“Tốt lắm, tiểu tử ngoan.” Lão Bào vỗ nhẹ lên vai cậu bé, ánh mắt tràn ngập vẻ trìu mến.
Đêm càng về khuya, gió lạnh tràn ngập thung lũng Thiết Tiêu Phong rít lên từng hồi ghê rợn, nhưng bên trong gian xưởng lò số ba, ánh lửa lại bùng lên ấm áp, soi rõ từng khuôn mặt đẫm mồ hôi.
Lão Bào thắt chặt lại đai lưng vải thô, xắn cao tay áo để lộ đôi cánh tay rắn rỏi sạm đen vì muội than. Lão dùng kẹp sắt dài gắp một khối phôi nứt nặng chừng tám cân đưa thẳng vào tâm buồng đốt lò số ba.
Dưới nhịp bễ đều đặn, thuần thục của A Lục, luồng gió luồn qua các rãnh nan quạt thổi bùng lớp than củi. Ngọn lửa chuyển dần từ đỏ sẫm sang màu cam sáng rồi dừng lại ở sắc vàng rơm rực rỡ. Khi nhiệt lượng ngấm sâu vào ruột thỏi sắt, những vệt rạn nứt trên bề mặt bắt đầu rỉ ra từng hạt xỉ nhớp nháp ám màu vàng xỉn của lưu huỳnh.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…