Lưới Đánh Cá Sợi Gai Vạch Trần Vụ Đắm Thuyền Bạc

Chương 9: Chiếc Búa Triện Mật

Gió dông ngoài sông lớn vẫn gầm thét dữ dội, từng đợt sóng bạc đầu chồm qua mạn thuyền nan hắt vào khoang những làn nước buốt giá. Cụ Cù Hữu Trạch khẽ ấn vai người thợ rèn tàn tật ngồi thụp xuống sát đáy ván, bàn tay cụ che chắn cho gói giẻ dầu mục nát mà ông ta đang run rẩy ôm trước ngực.

“Cứ ôm chặt lấy nó, về đến chòi hẵng hay,” cụ Trạch trầm giọng nói át tiếng mưa. “Nhạn, ép sát lái sang lạch sú vẹt mé hữu, chớ để đèn tuần bến Phù Kinh bắt được bóng.”

Cù Nhạn không đáp, chỉ khẽ gật đầu kiên định. Cô gái mười chín tuổi ghì chặt chiếc dầm gỗ kiền kiền, mượn sức nước xiết của con triều rút đưa chiếc thuyền lướt êm ru qua rặng bần đen thẫm, rẽ vào con lạch ngầm dẫn về góc khuất sau bãi cát xóm Ghềnh Rái. Nơi đây là căn chòi lá kín đáo của gia đình họ Cù, bốn bề che chắn bằng những giàn phơi lưới gai cao ngất và rặng mắm ken dày, cách biệt hoàn toàn với lối đi của tuần đinh.

Khi mũi thuyền cắm sâu vào bờ bùn lầy, cụ Trạch cùng cháu gái cẩn trọng dìu Lại Tư bước lên bờ. Đôi chân thọt cùng những vết sẹo bỏng co rút khiến người thợ rèn đi đứng khập khiễng, hơi thở đứt quãng trong cơn sốt lạnh. Cụ Trạch cài chặt then cửa nứa, rồi châm ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên chiếc chõng tre ọp ẹp. Ánh sáng vàng vọt hắt lên vách đất, soi rõ gương mặt xám ngoét vì hoảng loạn và nước mắt của Lại Tư.

“Nhạn, lấy nồi nước mưa đun sôi trên bếp tro, giã nắm lá tràm tươi hòa chút muối hột đem vào đây cho ta,” cụ Trạch phân phó rồi đỡ người thợ rèn ngồi xuống chiếu cói.

Cô gái nhanh nhẹn vâng lời, thoăn thoắt nhóm lại bếp than ấm, mang chậu nước sắc lá tràm bốc khói nghi ngút cùng tấm vải xô sạch đến bên chõng. Cụ Trạch tự tay nhúng khăn ấm, nhẹ nhàng lau sạch lớp bùn non cáu bẩn bám trên những vết bỏng than lửa đã mưng mủ nơi bắp chân và cánh tay chằng chịt sẹo của Lại Tư. Nước lá tràm ấm nóng làm dịu đi cơn đau rát, kéo người đàn ông khốn khổ trở về từ bờ vực hoảng loạn.

Nhìn lão ngư tám mươi tuổi râu tóc bạc phơ đang cúi mình chăm sóc cho kẻ từng gián tiếp hại con trai mình, Lại Tư không kìm được tiếng nấc nghẹn ngào. Hai vai ông ta run lên bần bật, một bên mắt chột đỏ hoe sưng húp, dòng nước mắt đùng đục chảy tràn qua những rãnh nhăn nheo trên mặt.

“Cụ Cù... tôi mang tội tày đình với dòng họ Cù, với hương hồn anh Vĩnh...” Lại Tư run rẩy quỳ sụp xuống mặt đất bùn, hai tay nâng gói giẻ dầu lên ngang trán. “Suốt hai mươi năm qua, mỗi tiếng búa nện xuống đe, mỗi ngọn lửa bùng lên trong lò đều như thiêu đốt tâm can tôi. Tôi hèn nhát, sợ quyền thế nhà họ Bạch giết cả nhà nên mới ngậm miệng trốn chui trốn lủi. Hôm nay nếu không có cụ và cháu Nhạn xả thân, nắm xương tàn này đã thành tro bụi dưới tay lũ ác bá. Tôi xin giao lại cho cụ vật này... để hương hồn anh Vĩnh được thanh thản nơi chín suối!”

Cụ Trạch nén tiếng thở dài, đỡ Lại Tư ngồi lại lên chõng rồi đón lấy gói giẻ dầu nặng trịch. Từng lớp vải tẩm dầu rái ngả màu nâu sẫm, mục nát theo thời gian được gỡ ra cẩn thận. Dưới ánh đèn dầu, một chiếc búa rèn bằng thép đặc lộ ra, thân búa bằng gỗ lim đã ngả màu cánh gián bóng loáng vì mồ hôi tay, phần đầu búa bằng thép tôi nước lạnh đen nhánh, phẳng lì và sắc cạnh. Ở góc trên của đầu búa, một dấu triện nhỏ bằng hạt ngô được khắc chìm tinh xảo: hình ba ngọn lửa uốn lượn trên đài than, nhưng bên cạnh ngọn lửa thứ ba có một nét khuyết hình bán nguyệt rất kín đáo.

“Đây là chiếc búa triện mật của riêng tôi tại phường rèn bến Phù Kinh năm xưa,” giọng Lại Tư thì thào, đứt quãng. “Và cả... thứ này nữa.”

Người thợ rèn móc từ sâu trong bọc giẻ một cuộn giấy bản ngả màu vàng ố, tẩm mỡ bò chống ẩm. Cụ Trạch mở rộng trang giấy trên mặt bàn gỗ. Đó là một bản vẽ kỹ thuật tỉ mỉ vẽ bằng mực tàu, ghi rõ kích thước, quy cách tôi thép và độ vát của mười sáu chiếc đinh sắt dài bảy tấc. Điều rợn người là phần dưới mũ đinh đều bị tiện khuyết mất một nửa ngạnh giữ, chỉ cần chịu chấn động mạnh của sóng ngầm là sẽ tự động tuột rời khỏi thớ gỗ.

Đôi mắt quắc thước của cụ Trạch ghim chặt vào từng nét mực run rẩy:

“Đây chính là quy cách của ba chiếc đinh cắm trên thanh đà lườn thuyền mà lão vừa vớt lên dưới vực Họng Cọp.”

“Đúng vậy thưa cụ!” Lại Tư gật đầu lia lịa, con mắt còn lại ánh lên nỗi kinh hoàng của ký ức hai mươi năm trước. “Cuối tháng Tám năm Nhâm Dần, Bạch Phước Cương bí mật tìm đến lò rèn của tôi lúc nửa đêm. Hắn ném ra ba trăm đồng bạc Đông Dương, ép tôi phải đóng cửa lò rèn đúng mười sáu chiếc đinh khuyết đầu theo bản vẽ này, cùng một chiếc xà beng mũi ngạnh cá để rút chốt lén. Hắn dọa nếu hé răng nửa lời, hắn sẽ ném cả vợ con tôi xuống sông Gianh làm mồi cho cá.”

Cù Nhạn đứng bên cạnh, hai bàn tay siết chặt vạt áo nâu, lồng ngực phập phồng căm phẫn:

“Bác Lại Tư, thế còn cha cháu? Đêm hôm thuyền đắm, cha cháu đã xảy ra chuyện gì?”

Nghe nhắc đến Cù Hữu Vĩnh, toàn thân Lại Tư run rẩy dữ dội hơn, hai hàm răng va vào nhau lập cập:

“Đêm ấy... trời mưa dầm gió bấc. Bạch Phước Cương bắt tôi đi theo trên chiếc thuyền tam bản bám sát thuyền chở bạc, bảo là để kiểm tra then đinh phòng khi rò rỉ. Khi thuyền qua ngách vực Họng Cọp, nước xoáy ngầm bắt đầu hút mạnh, lườn thuyền đột ngột bung toác do mười sáu chiếc đinh khuyết bị áp lực nước đẩy bật ra. Lúc ấy, tôi nấp sau vách khoang tam bản áp mạn... tận mắt nhìn thấy... chính mắt tôi nhìn thấy...”

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Nhật Minh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Nhật Minh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…