Lưỡi Đục Gỗ Neo Mối Duyên Thù Sông Lục

Chương 7: Lần Theo Vết Độc

Lời đe dọa lạnh buốt của Đoàn Ngọc Chi như lưỡi dao thép chém vào ngọn gió bấc, vẳng lại trên mặt nước cuộn sóng rồi tan dần vào màn sương đen kịt của Lục Đầu Giang. Đoàn thuyền tuần tiễu của Thiết Sa Bang thu đuốc, lướt đi trong bóng tối, để lại sau lưng tiếng nước vỗ ầm ào vào chân cọc bến xưởng mộc.

Hà Thạch đứng chôn chân trên bờ cát ẩm, hai bàn tay siết chặt đến mức các khớp ngón trắng bệch. Thời hạn đúng bảy ngày tựa như một tảng đá ngàn cân đè nặng lên lồng ngực chàng trai hai mươi tư tuổi. Nếu không tìm ra kẻ thủ ác, máu của xóm thợ mộc lương thiện sẽ nhuộm đỏ bến sông này, và thanh danh của sư phụ cũng sẽ bị chôn vùi dưới đáy nước.

Một bàn tay khô ráp ấm áp đặt lên vai chàng. Hà Thạch giật mình quay lại, bắt gặp ánh mắt điềm đạm mà sâu thẳm của cụ Giáp Khắc Tùng. Lão nhân một trăm mười hai tuổi khẽ vuốt chòm râu bạc phơ chấm ngực, giọng trầm ấm như tiếng gõ vào thớ gỗ lim:

“Thạch nhi, tâm có tĩnh thì mắt mới sáng, tay mới ghìm nổi cán đục trước khúc gỗ cong. Kẻ giấu mặt bắn Hắc Sa Châm tuy mưu sâu kế độc, nhưng đã là đồ vật rèn ra trên thế gian thì ắt phải để lại dấu vết nơi bến nước.”

Sáng hôm sau, khi vệt rạng đông màu lòng đỏ trứng gà vừa hắt qua sương sớm trên khúc sông Cầu, chiếc thuyền nan của bác Ba Cần đã cập sát chân cầu tàu xưởng mộc. Cụ Tùng trao cho Hà Thạch một mảnh tre bọc vải điều, bên trong có dấu muội than ghi lại kích thước và độ cong của mũi độc châm bọc kim tìm thấy tối qua. Cụ dặn chàng xuôi ngược các nhánh sông Cầu và sông Thương, nơi tập trung nhiều lò rèn sắt nguội và bến bãi buôn chuyến, tìm hiểu xem phường thợ nào từng tôi luyện thứ ám khí tinh vi dường ấy.

Mái chèo của bác Ba Cần khua nước đều đặn, đẩy con thuyền nan lướt đi giữa bạt ngàn lau sậy. Bác lái đò sáu mươi tuổi kéo sụp vành nón lá, đưa đôi mắt kèm nhem dãi dầu sương gió nhìn quanh quất khúc sông vắng, đoạn hạ thấp giọng nói với Hà Thạch:

“Chú Thạch này, lão dong đò trên khúc sông Lục Đầu này mấy chục năm, con cá con tôm bơi qua còn biết, huống chi chuyện khuất tất của đám người giang hồ. Chú muốn tìm tung tích mũi kim độc bọc kim kia, lão thấy có một chuyện lạ lùng cần phải nói.”

Hà Thạch ngồi ở mũi thuyền, vội nghiêng mình lắng nghe:

“Chuyện gì vậy bác Ba? Xin bác chỉ giáo cho cháu.”

Bác Ba Cần ngừng nhịp chèo, nhổ một bãi nước trầu đỏ au xuống dòng nước xiết, thì thầm:

“Chừng nửa tháng nay, cứ vào quãng canh ba đêm vắng, phía bãi sậy hoang giáp ranh ngã ba sông Thương thường xuất hiện mấy chiếc thuyền lạ. Thuyền ấy đáy nông, mép ván bọc đồng mỏng, chở những kiện hàng bọc da trâu kín mít, buộc dây chão gai to bằng cổ tay. Lạ một nỗi, người trên thuyền chẳng mang cờ hiệu buôn bán nào, kẻ nào kẻ nấy đều nịt khăn đen, hông đeo đoản đao sắc lẹm, áp tải hàng cực kỳ nghiêm ngặt. Có lần lão chèo đò ngang qua gần đấy, suýt nữa bị một mũi tên không lông bắn cảnh cáo cắm phập vào mạn thuyền.”

Nghe bác Ba kể, mày kiếm của Hà Thạch khẽ nhíu lại. Hàng hóa bọc da trâu kín mít giữa đêm khuya nơi bãi sậy hoang vu, tuyệt nhiên không phải nông sản hay tơ lụa của tuần ty buôn bán thông thường. Da trâu dày vốn là thứ chuyên dùng để chống ẩm ướt cho sắt thép, diêm tiêu hoặc đồ binh khí vận chuyển đường thủy dài ngày. Chàng thầm ghi nhớ lời bác Ba, quyết định trước mắt vẫn ghé vào bến thợ rèn ven sông Thương theo lời dặn của sư phụ.

Thuyền cập bến thợ rèn nằm khuất sau rặng tre gai ở ngã ba sông Thương. Nơi đây khói than bay nghi ngút, tiếng búa gõ đe rền vang suốt ngày đêm. Hà Thạch bước lên bờ, tìm đến lò rèn của một lão thợ già nức tiếng sành nghề sắt nguội ven sông.

Cầm mảnh tre có vẽ kích thước mũi Hắc Sa Châm do cụ Tùng sao lại, lão thợ rèn nheo mắt nhìn hồi lâu dưới ánh lửa bễ đỏ rực, đoạn lắc đầu quầy quậy:

“Thép bọc kim mỏng như cọng râu tôm, lại xẻ rãnh ngầm để chứa kịch độc... Khắp vùng Lục Đầu Giang này không một lò rèn nào đủ tài nghệ lẫn gan mật để làm thứ ác nghiệt này đâu, tráng sĩ. Muốn dát kim khí tinh vi cỡ này, phải là thợ đúc thượng thặng của các xưởng quân khí bí mật, hoặc từ phương Bắc xa xôi mang tới. Nhưng…”

Lão thợ rèn ngập ngừng, nhìn quanh rồi nói nhỏ:

“Mấy hôm trước, có kẻ đem một thỏi thép phôi xanh đen đến đây thuê lão tôi luyện cho cứng thêm, mùi tanh nồng như xạ hương bốc lên từ bao da của gã. Lão thấy chẳng lành nên đã từ chối thẳng thừng.”

Manh mối vừa lóe lên thì gã thợ rèn vội vã quay vào trong, không dám hé răng thêm nửa lời.

Hà Thạch bước ra khỏi lò rèn, lòng đầy trĩu nặng suy tư. Nhưng khi vừa rảo bước qua dãy cầu tàu gỗ gập ghềnh ven sông, bản năng nhạy bén của một người thợ mộc quen lắng nghe từng chuyển động của thớ gỗ bỗng mách bảo chàng có điều bất thường.

Một tiếng chân khẽ chạm vào mui thuyền phía sau. Gió sông thổi thốc từ bãi bồi mang theo một làn hương thơm nhàn nhạt, hoàn toàn khác biệt với mùi bùn tanh và khói than lò rèn. Liếc khóe mắt qua mặt nước phẳng lặng soi bóng mép bờ, Hà Thạch nhận ra một bóng đen mảnh mai, di chuyển cực kỳ nhanh nhẹn, thoăn thoắt lướt trên nóc các khoang đò đậu san sát, bám sát từng bước chân của chàng.

“Kẻ nào dám bám đuôi?” Hà Thạch thầm nghĩ, bàn tay siết chặt chiếc sào gỗ lim dài tám thước chuyên dùng chống đò. Chàng vờ như không hay biết, thong thả cất bước về phía một bến đỗ chất đầy rơm rạ và những chiếc mủng tre úp ngược phơi nắng.

Bóng đen lướt theo sát nút, hạ mình đáp xuống mép một con thuyền nan rỗng cách chàng chỉ chừng trượng rưỡi.

Chính là lúc này!

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lý Trinh Tam
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lý Trinh Tam

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…