Lưỡi Đục Khắc Chữ Bảng Vàng Rửa Tủi Thầy Đồ
Chương 20: Lưỡi Đục Khắc Bia Đình
Tiếng bánh gỗ nghiến kèn kẹt trên nền đá dăm vừa dứt, bốn con trâu mộng thở phì phò dừng bước giữa sân đình Cổ Lãm. Lỗ Bá Thiệu đưa tay đỡ lưng, nén lại cơn đau âm ỉ từ vết bỏng đã lên da non, nheo mắt ngắm nhìn khối đá xanh Đông Triều đồ sộ. Mặt đá nhẵn bóng như gương, phản chiếu ráng chiều mùa thu vàng rực và bóng rợp của cây đa cổ thụ. Mười cấm kỵ Đô Sát Viện nhanh nhẹn thu dọn dây chão, trao chiếc tráp đựng bản sao ngự phê bài thi cho bô lão trong làng rồi chắp tay cáo lui, nhường lại khoảng sân rộng cho những người thợ áo vải.
Không gian đình làng chẳng mấy chốc rộn rã hẳn lên bởi tiếng cười nói của các nghệ nhân mộc bản và thợ đá tụ hội về từ khắp các ngả. Cánh thợ chạm Liễu Tràng mang đến những phiến đá bùn mịn và chậu nước giếng trong vắt để mài liếc lưỡi thép; phường thợ Đông Triều khiêng những giàn giáo gỗ xoan vững chãi kê quanh bệ đá; đám thanh niên Cổ Lãm xúm lại châm bếp trấu đun sôi ấm nước trà hoa hồi thơm ngát.
Bác trưởng phường Liễu Tràng bước tới bên cụ Thiệu, ngắm nghía khối đá rồi trầm trồ:
— Cụ Lỗ xem, đá núi Đông Triều thớ mịn mà gan lì khôn xiết, ngàn năm dãi dầu sương gió cũng chẳng sứt mẻ mảy may. Thứ đá này mà đón lấy nét chữ của cụ giáo Đặng Thế Doanh thì quả là xứng hợp nghìn thu!
Cụ Thiệu khẽ vuốt chòm râu bạc như cước, gật đầu mỉm cười:
— Đá dẫu cứng đến đâu, chạm bằng tâm đức chí thiện ắt sẽ mềm lòng đón chữ. Hôm nay nhờ công sức của anh em bách nghệ, mối oan khiên ba mươi năm qua mới có chốn khắc ghi tỏ tường cùng nhật nguyệt.
Cụ quay sang bên cạnh. Đặng Minh Triết đang cúi mình kiểm tra từng gióng thang gỗ, vạt áo chàm thắt gọn ghẽ ngang lưng. Chàng cẩn thận dùng giẻ dâu lau sạch bụi đá bám trên bệ đỡ, từng động tác dứt khoát, chuẩn mực không một thừa thãi. Nhìn bờ vai rộng và vóc dáng cao ráo, vững chãi của chàng, lòng cụ Thiệu dâng lên nỗi xúc động khôn nguôi. Ba mươi năm trước, khi ôm đứa trẻ đỏ hỏn còn chưa dứt sữa chạy trốn trong đêm mưa gió bão bùng, cụ chỉ tâm niệm nuôi nấng con của người học trò bạc mệnh nên người. Giờ đây, đứa trẻ ấy đã trở thành một thanh niên khôi ngô đĩnh đạc, đôi mắt sáng ngời chính khí, thạo nghề bách nghệ và mang trọn tấm lòng hiếu nghĩa, nhân hậu. Vết thương do nhát đao sượt qua bên mạn sườn chàng nay đã lành miệng, chỉ còn lại vết sẹo mờ như dấu ấn của lòng quả cảm.
— Triết nhi, lại đây với thầy, — cụ Thiệu cất tiếng gọi trầm ấm.
Minh Triết vội bước tới, vòng tay cung kính:
— Thưa thầy, giàn giáo và mực nho mài bằng muội thông dầu trám đã chuẩn bị chu tất. Mực ngự phê bài thi của cha con từng câu từng chữ đều đã được đối chiếu kỹ càng.
— Tốt lắm, — cụ Thiệu khẽ vỗ vai chàng. — Khắc chữ lên mộc bản gỗ thị cốt ở sự mềm mại, lựa theo thớ tơ vi quản; nhưng khắc lên đá xanh núi cao lại cần cái tâm định tĩnh như bàn thạch. Lưỡi thép xanh gia bảo của dòng họ Lỗ ta từng xé toạc màn sương dối trá nơi công đường Minh Kính Đài, nay sẽ cùng con tạc lại thanh danh cho cha. Nhát đục đầu tiên này, con hãy tự tay hạ xuống.
Minh Triết thoáng ngỡ ngàng, đôi tay chàng hơi run rẩy:
— Thầy… con e rằng tay nghề của con chưa đủ vững vàng để đảm đương trọng trách trước hương hồn cha và muôn dân.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…