Lưỡi Đục Khắc Chữ Bảng Vàng Rửa Tủi Thầy Đồ
Chương 4: Ý Trĩ Nung Lưỡi Đục
Đặng Minh Triết siết chặt miếng ngọc bội phỉ thúy trong lòng bàn tay. Cạnh vàng sắc lạnh cứa vào da thịt, nhưng cơn nhức nhối ấy chẳng thấm vào đâu so với nỗi căm hờn đang cuộn trào trong lồng ngực chàng. Đóa hoa cúc chạm nổi kia như một vết nhơ nhạo báng, rành rành dấu tích bàn tay độc ác của Thao Thiết Đường.
— Triết nhi, cất đi. — Tiếng cụ Thiệu khô khốc cất lên bên cạnh, kéo chàng về thực tại. — Cơn giận làm mờ mắt thợ thì nhát đục ắt chệch đường. Giữ lấy nó làm chứng cớ, trời cao ắt có mắt.
Triết hít sâu một hơi, cẩn thận nhét miếng ngọc bội vào sâu trong túi áo chàm, rồi cúi xuống đỡ lấy cánh tay gầy guộc của sư phụ.
Trời rạng sáng dần bên bến sông Đuống. Xưởng mộc Cổ Lãm ba gian nay chỉ còn là đống tro tàn nghi ngút khói đen và những khúc cột cháy dở ngổn ngang. Nhờ có bà con phường thợ xúm tay giúp sức, người chặt tre, kẻ vác nứa, một túp lều tranh che tạm bằng liếp nứa rách đã nhanh chóng mọc lên bên triền đê lộng gió.
Bác thợ rèn đầu xóm mang sang một niêu mỡ trăn còn ấm nóng, ái ngại nhìn tấm lưng phồng rộp những bọng nước của cụ Thiệu. Triết đón lấy niêu mỡ, nhẹ nhàng dùng lông ngỗng quết từng vệt mỏng lên vết bỏng cho thầy. Cụ Thiệu cắn chặt môi, mồ hôi ướt đẫm trán nhưng lưng vẫn cố giữ thẳng tắp như thân tùng.
— Thầy ráng chịu đau một lát, mỡ trăn sẽ hút bớt hơi lửa độc ra ngoài. — Triết khẽ nói, lòng quặn thắt khi nhìn làn da nhăn nheo của người đã nuôi nấng mình ba mươi năm qua chịu khổ ải.
— Chút da thịt ngoài thân có hề gì. — Cụ Thiệu thở khẽ, đưa mắt nhìn ra mảnh sân chất đầy những sọt tro than vừa được dân làng thu dọn. — Tấm lòng bà con chòm xóm cưu mang lúc hoạn nạn mới là điều quý giá. Triết nhi, mang chiếc tráp gỗ lại đây cho ta.
Triết bước tới góc lều, ôm chiếc tráp gỗ lim còn vương mùi khói đặt lên chiếc chõng tre ọp ẹp. Cụ Thiệu run run mở nắp tráp, không lấy phiến mộc bản cháy sém ra trước, mà rút từ ngăn đáy một bao vải điều đã ngả màu ố vàng. Khi từng lớp vải được mở ra, ánh thép xanh biếc lấp lánh dưới làn sương sớm rọi thẳng vào mắt Triết.
Đó là một con đao trổ dài chừng năm tấc, chuôi tiện bằng gỗ mun đen nhánh bóng nhẵn dấu tay cầm, lưỡi thép mỏng manh nhưng sắc lẹm, sống đao dày dặn vững chãi.
— Đây là lưỡi đao trổ gia bảo của dòng họ Lỗ. — Cụ Thiệu nâng con đao bằng cả hai tay, ánh mắt già nua bỗng sáng quắc khác thường. — Ba mươi năm trước, ta trao nó cho cha con để khắc bảng vàng khoa thi Tân Mão. Đêm Doanh tuẫn tiết nơi cột đình trường thi, thanh đao này đã vùi trong bùn lạnh, mãi sau này ta mới lén chuộc lại được. Hôm nay, ta truyền lại vào tay con.
Minh Triết run rẩy quỳ xuống, đón lấy kỷ vật thiêng liêng của người cha chưa từng thấy mặt. Cầm chuôi mun trong tay, chàng cảm giác như đang nắm lấy chính bàn tay của thân phụ, ấm áp và trĩu nặng ân tình.
— Hãy nhớ kỹ lời ta, — Cụ Thiệu chỉ tay vào phiến gỗ thị đặt trên chõng, giọng đanh thép từng chữ. — Nghề mộc bản cốt ở cái tâm ngay thẳng. Con nhìn vào mặt ván này xem, gỗ thị vàng cổ thụ không đơn thuần là thớ thịt vô tri. Dưới con mắt tinh tường của bậc thợ già, trong từng thớ tơ mịn như lụa là hàng vạn ống vi quản li ti dẫn nhựa từ rễ lên ngọn. Nhựa cây ngưng tụ nghìn năm tạo thành đường vân bất biến. Một nhát đao trổ xuôi thớ hay ngược thớ đều cắt đứt vĩnh viễn mạng lưới vi quản ấy. Kẻ gian dẫu có nạo gỗ, trét nhựa trám hay quét sơn ta che đậy, thì cấu trúc ống vi quản bên dưới đã đứt đoạn, mãi mãi không bao giờ liền lại được!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…