Luống Rau Cải Ngọt Trên Đất Mặn Đồng Chiêm
Chương 2: Mạch nước nghẹn ngào
Lời răn của cụ Lư Thế Hùng buông xuống giữa không gian buốt cóng tựa hồi chuông đồng trầm đục gióng lên bên mái đình cổ. Mấy anh thanh niên đang lúng túng bên bờ ruộng bất giác buông thõng hai tay, thở phào lùi lại một bước.
Trần Đức Hợi sững sờ chôn chân dưới lòng rãnh cạn, chiếc áo bộ đội bạc màu ướt sũng mồ hôi lạnh. Nhìn thấy cụ cố của làng, vẻ hung hăng nôn nóng ban nãy trên gương mặt chữ điền của người đội trưởng bỗng chốc xẹp xuống, chỉ còn lại sự bối rối tột cùng. Ông Hợi cuống quýt bước lên bờ cỏ úa, hai tay khẽ chắp trước bụng, miệng lí nhí phân bua:
– Cụ cố… chẳng giấu gì cụ, ban quản trị giao chỉ tiêu mười lăm mẫu chiêm trũng này phải cấy xong trước lập xuân. Đạm Urê với lân nung chảy kẹt ở ga tàu không về kịp, trạm bơm lại cạn dầu diezen. Giáp hạt sau lưng rồi, con sốt ruột quá mới tính liều một phen. Không gieo vét thì lấy gì nộp khoán sản phẩm cho hợp tác xã, lấy gì cho mấy chục miệng ăn đắp đổi qua ngày hả cụ?
Cụ Hùng lặng lẽ nhìn người đội trưởng, ánh mắt tinh anh ánh lên nét bao dung từng trải. Cụ không nạt nộ, chỉ khẽ lắc đầu, chòm râu bạc dài chấm ngực khẽ lay động theo từng cơn gió bấc. Cụ dịch chiếc gậy tre đực nhẵn bóng sang tay trái, tay phải thong thả vén vạt áo bông chần màu nâu sồng rồi từ tốn ngồi thụp xuống ven bờ mương cạn trơ đáy.
Khang vội bước theo sau, cúi mình che chắn ngọn gió lạnh thốc từ phía cánh đồng hoang. Cụ Hùng đưa những ngón tay gầy guộc nhưng dẻo dai, nổi rõ từng đường gân xanh cào nhẹ lớp bụi đất trắng bệch trên mặt luống. Bỏ qua lớp màng khô mốc như vôi bột ấy, cụ ấn sâu đầu ngón tay xuống chừng nửa đốt, moi lên một tảng đất sét dẻo quánh, lạnh ngắt như đá tảng.
– Chú Hợi lại đây, Khang nữa, hai đứa nhìn cho kỹ – giọng cụ trầm ấm mà rành rẽ.
Cụ Hùng tách đôi tảng đất sét trong lòng bàn tay. Dưới ánh sáng nhờ nhợ của buổi sớm đông, thớ đất phơi ra những vệt loang lổ màu xám xanh xen lẫn các đốm chấm vàng sẫm như rỉ sắt gỉ sét lâu ngày. Mùi tanh nồng ngai ngái bốc lên khiến sống mũi người ta cay xè.
– Thấy chưa? Đất mặn đất chua không phải do trời không đổ mưa ngày một ngày hai mà thành tật. Vùng trũng Cẩm Bình này vốn nằm trên túi bùn trũng cũ, phèn mặn ngấm sâu dưới tầng đáy. Mùa hè mưa nhiều, nước ngọt trên trời dội xuống đè nén phèn lặn sâu trong lòng đất, ấy là lúc đất được nghỉ. Nhưng sang cữ đông xuân hanh hao, đất cũng như người ta, đến lúc phải thở ra. Hơi ẩm bốc lên kéo theo từng mạch nước ngầm nhiễm chua mặn theo kẽ nứt đùn ngược lên mặt ruộng. Đất bị nghẹn, rỉ sắt đọng thành váng, chú ném mạ non xuống lúc này chẳng khác nào bắt đứa trẻ sơ sinh uống nước muối đặc.
Đội trưởng Hợi nín thở lắng nghe, trán nhăn tít lại:
– Nhưng thưa cụ, dưới lòng mương con còn chút nước đọng, hay là ta huy động gàu sòng tát lên thau rửa luống mạ…
– Tát nước ấy vào thì rễ lúa rữa nát thành tro ngay trong đêm! – Cụ Hùng gõ nhẹ đầu gậy tre xuống mô đất – Nước dưới đáy mương lúc này là nước tù, mặn chát và chua khé cổ. Mạch ngọt chưa thông mà đem nước tù độc hại tưới lên thì đất chỉ thêm ngộ độc. Trị bệnh cho đất phải thuận theo mạch khí của trời, hấp tấp là mất cả chì lẫn chài.
Đúng lúc ấy, tiếng chuông xe đạp reo lách cách vang lên từ triền đê. Một chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu cánh gián lao nhanh xuống dốc rồi phanh kịt lại bên vệ cỏ. Đặng Thị Thược nhảy xuống xe, hai ống quần lụa đen xắn cao quá bắp chân, đôi ủng cao su vương đầy bùn đỏ. Cô cán bộ kỹ thuật trẻ thở hổn hển, một tay giữ chặt chiếc túi bạt đựng sổ tay và đồ nghề đo đạc, vội vã chạy lại mép ruộng.
– Cụ Lư! Chú Hợi! May quá mọi người còn ở đây! – Thược cất tiếng chào, khuôn mặt thanh tú lấm tấm mồ hôi giữa trời đông giá.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…