Luống Rau Cải Ngọt Trên Đất Mặn Đồng Chiêm
Chương 9: Hơi ấm từng gian bếp
Gió bấc rít qua vạt áo bông sờn chỉ, Khang đứng chôn chân trên bờ mương se sắt lạnh, ngước nhìn bóng lưng quắc thước của cụ cố. Lời dặn đi mượn hơi ấm của từng gian bếp vừa dứt, Đội trưởng Hợi lập tức vỗ mạnh vào đùi một cái đét:
– Cụ nói phải quá! Đất đồng chiêm đang lạnh ngắt ruột gan thế này, không có tàn tro rơm ủ ấm thì nước chua lại bốc lên bằng sạch. Thược này, ngay sớm mai cô với bên phụ nữ tỏa đi các xóm. Tôi với cậu Khang sẽ đánh xe cải tiến vét từng bao một!
Đặng Thị Thược gật đầu quả quyết, cẩn thận gài chiếc bút máy vào túi áo rồi cùng mọi người dọn nông cụ ra về.
Mờ sáng hôm sau, khi sương mù đặc quánh còn giăng mắc trên những rặng tre xao xác, tiếng bước chân rộn rã đã khuấy động khắp ngõ xóm thôn Đông Chiêm. Khang cùng Đội trưởng Hợi kéo chiếc xe cải tiến kẽo kẹt trên con đường đất mấp mô. Đôi ủng cao su dính bết đất bùn, nhưng trong lòng Khang lại rạo rực một cảm giác khó tả.
Phía trước, bóng áo xanh của Thược cùng mấy chị em phụ nữ thoăn thoắt gõ cửa từng nếp nhà tranh. Khang thấy Thược đứng nép bên bậc cửa nhà bác Vượng, cất giọng trong trẻo:
– Bác gái ơi, Đội hai chúng cháu xin phép vét tro bếp củi rơm để chống phèn ngoài đồng chiêm ạ!
Cửa liếp ken dày kẽo kẹt mở. Bác gái không hề chần chừ, tay bưng chiếc nong rách, tay cầm gáo dừa đon đả bước ra:
– Đón tro đồng ruộng chứ gì? Cứ vào bếp mà vét sạch lòng lò đi các cháu! Bác bòn sẵn tro rơm nếp từ mấy hôm đun nồi bánh, ấm ran cả tay đây này.
Từng gia đình trong xóm đều tự giác mở then cửa bếp. Khói bếp ban mai bảng lảng quyện vào sương sớm, mang theo mùi nồng ấm của tro rơm rạ mục và củi tre khô. Người mang thúng sứt cạp, người xách sọt tre, ai nấy đều cẩn thận bốc từng vốc tro còn vương chút than hồng âm ỉ đổ vào bao tải gai trên xe của Khang. Khang đón lấy chiếc thúng nặng trịch từ tay một bà cụ gầy gò, lòng thắt lại khi thấy bà còn trút thêm cả nửa bao vỏ trấu mục tích trữ nuôi lợn nái:
– Trấu này ngâm rỉ mật với bùn ao mục lắm rồi đấy chú Khang ạ. Cứ mang ra đồng mà lót ổ cho hạt cải nó ấm chân. Lợn đói một bữa thì nấu rau má trừ bữa, chứ để cả làng đứt hạt lúa, hạt rau mùa này thì tội chết!
– Cháu đội ơn bà con! – Khang nghẹn ngào đáp, hai tay ghì chặt càng xe kéo.
Chiếc xe cải tiến mỗi lúc một nặng trĩu. Hợi vừa hò hét đẩy phụ phía sau vừa cười ha hả, mồ hôi tứa ra trên vầng trán khắc khổ bất chấp từng cơn gió bấc thổi rát mặt. Về đến đầu bờ, Khang lại sang tro vào từng đôi bồ nặng trĩu, sải bước thoăn thoắt đưa tro trấu ra đồng. Dọc theo các bờ luống của mười lăm mẫu ruộng chiêm trũng, những ụ tro bếp xám mịn và trấu mục dần mọc lên san sát như những gò than ấm cúng, che chắn cho mặt bùn non đang khô se lại.
Thế nhưng, khi gánh chuyến thứ tư rẽ vào ngõ chùa, bước chân Khang bỗng khựng lại dưới gốc đa cổ thụ. Bên chiếc điếu cày bốc khói là tiếng rù rì bàn tán của vài cụ già trong xóm đang ngồi tránh rét:
– Đời thuở nhà ai lại mang tro rơm rạ mục đi cứu ruộng chua bao giờ! Tro bếp tan vào nước thì bở bục đất ra chứ béo bở gì. Cụ Lư tuy đại thọ minh mẫn thật, nhưng thời buổi này đất mặn trũng phèn phải có đạm lân của nhà nước cấp về chứ tro rơm làm sao thay thế nổi phân hóa học.
– Khéo lại nhọc công thanh niên gánh gồng, rồi đến lúc rau cải chẳng mọc nổi mà rễ lại thối rữa dưới bùn tro thôi ông giáo ạ!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…