Mái Thủy Tinh Che Trận Mưa Kiềm Đêm Tận Thế
Chương 14: Ngọn Lửa Toàn Dân
Cụ Cát Vĩnh Hòa ngẩng đầu lên, ngỡ ngàng nhìn bóng dáng gầy gộc của bà Sáu Dừa giữa khoảng sân kho nhầy nhụa bùn than.
Phía sau bà, hai cậu thiếu niên xóm thợ đang khom lưng khiêng một chiếc hòm gỗ lim xám xịt đặt phịch xuống nền đá vôi. Đó là chiếc rương đựng kỷ vật duy nhất gia đình bà gìn giữ suốt mười lăm năm trôi dạt sau thảm họa bão điện từ.
Không một giây chần chừ, bà Sáu Dừa giơ cao chiếc búa chim thép rèn, dồn toàn bộ sức lực giáng mạnh xuống nắp hòm.
“Rầm!”
Gỗ lim già đanh nứt toác ra làm đôi. Từng thớ gỗ khô giòn lộ ra, tỏa mùi gỗ mộc nồng đượm không vương một giọt ẩm ướt. Bà Sáu vung búa chẻ phăng thành từng thanh củi lớn, quẳng thẳng vào đôi tay thô ráp của Thạch:
“Bà con ơi! Củi khô đây! Còn người là còn của, giữ cái hòm mục này làm gì khi đầu không có mái che! Than ướt thì ta đun củi gộc, dốc hết củi khô giữ lấy ngọn lửa cho lò nung!”
Tiếng kêu gọi của người phụ nữ sáu mươi lăm tuổi như mũi tên xé toạc màn sương tuyệt vọng đang đè nặng lồng ngực mọi người.
Một bác thợ rèn già quăng phăng chiếc nón mê rách, hét lớn: “Bà Sáu nói phải! Vợ ơi, về nhà khiêng hai cái chõng tre với bộ phản gỗ sến ra đây!”
“Cả cái sập gụ bỏ không ở ngách hang số bốn nữa! Đập ra hết!” Một thanh niên tuần tra phụ họa.
Cụ Hòa sững sờ chứng kiến dòng người tị nạn bắt đầu chuyển động. Cơn hoảng loạn biến thành ngọn sóng đoàn kết cuộn trào khắp các ngóc ngách của tiền đồn Vực Xanh. Từ vách đá phía tây sang ngách hang phía nam, hơn ba trăm con người hối hả đốt đuốc, í ới gọi nhau. Những cánh cửa gỗ thông cũ kỹ được tháo bản lề, những thanh vạt giường tre, bàn ghế nứt nẻ, gậy gỗ chống lũ gom góp bấy lâu đều được bà con chuyền tay nhau đưa về chân vách đông.
Thạch quấn vội dải vải sạch quanh lòng bàn tay rách toạc ứa máu, thoăn thoắt cùng đám trai tráng vung rìu chẻ nhỏ từng súc gỗ lim và gỗ sến. Từng ôm củi khô ráo, thơm nồng mùi nhựa bắt đầu chất cao thành ngọn đồi nhỏ ngay cửa buồng đốt.
Cụ Hòa cảm thấy sống mũi cay xè, đôi vai nặng trĩu bỗng nhẹ bẫng. Cụ bước nhanh lại miệng lò, dùng bay sắt cời lớp than tro cũ, quát to:
“Thạch! Tống củi gộc vào buồng thông gió! Thêm hai phần củi sến đượm than ở đáy lò, ép quạt bễ hết cỡ!”
Gió từ hai ống bễ da trâu lại rít lên dồn dập. Gỗ lim già bắt lửa nổ lách tách, tỏa ra luồng nhiệt lượng mãnh liệt chưa từng thấy. Ngọn lửa đỏ đục ban đầu nhanh chóng chuyển sang vàng rơm, rồi vút lên sắc trắng lóa rực rỡ, thiêu đốt lớp không khí trước cửa lò đến mức méo mó. Trên bệ nung, nón pyrometric đất sét lại từ từ uốn cong đỉnh xuống mép khuôn, báo hiệu nhiệt độ đã chạm mốc một nghìn bốn trăm năm mươi độ C.
Mai gượng đứng dậy bên bàn nghiền, vết bỏng ở chân trái dường như dịu đi trước hơi ấm hừng hực. Đôi mắt cô sáng ngời, thoăn thoắt cân đong từng muỗng tro kiềm và bột khoáng zirconi dioxit, dồn dập đổ vào miệng nồi nấu.
Suốt nhiều giờ liền, tiếng bễ thở hòa cùng tiếng hò reo tiếp sức của bà con. Mười bộ khuôn thép đường ray mở ra rồi đóng lại liên tục. Dòng silicat borat zirconi lỏng sánh như mật ong rực sáng chảy tràn vào rãnh khuôn, tạo hình những phiến ngói dày hai phân sắc nét gờ mộng âm dương. Từng khối ngói nóng bỏng nhanh chóng được cụ Hòa và Thạch dùng kẹp sắt dài nhấc ra, vùi sâu vào hố ủ tro nóng điều nhiệt để triệt tiêu ứng suất dư. Hàng chục phiến ngói mới tinh đã nằm an toàn dưới lòng tro ấm.
* * *
Nửa đêm, khi xưởng lò đang hầm hập không khí lao động hăng say, một bóng đen lẻn qua những đống củi ngổn ngang, luồn vào lán thí nghiệm khuất sau vách đá.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…