Mái Thủy Tinh Che Trận Mưa Kiềm Đêm Tận Thế
Chương 17: Mảnh Ghép Cuối Cùng
Luồng gió rít lên chát chúa, thốc đám bụi kiềm vàng đục vào mắt khiến cụ Cát Vĩnh Hòa phải chớp vội mi qua lớp kính bảo hộ nứt góc. Cả sàn giàn giáo cao sáu mét chao đảo mạnh theo từng đợt gió giật cấp bảy. Những thanh tre và dầm gỗ nghiến cọ vào nhau ken két, dội xuống lòng hang từng âm thanh ghê người.
“Thạch! Bám chặt cột giằng!” Cụ Hòa hét lớn, tiếng gió lập tức cuốn phăng thanh âm của cụ ra ngoài vách đá.
Đặng Thạch ghì chặt hai cánh tay quanh thân cọc gỗ, bàn tay quấn vải siết chặt nghiến vào thớ gỗ, người nghiêng hẳn đi để che chắn cho phiến ngói vừa đặt. Bên cạnh, Lê Mai ngồi thụp xuống sàn giàn, hai tay ôm ghì lấy xô vữa pozzolana dẻo quánh, dải khăn trùm đầu bay phần phật quất vào gò má đỏ bừng. Bụi kiềm li ti bay ràn rạt như cát bỏng, rớt xuống mu bàn tay trần làm da thịt cụ Hòa nhói buốt, bốc lên mùi hăng cay xè quen thuộc. Nhưng cụ không lùi bước. Ở tuổi bảy mươi mốt, đôi chân cụ vẫn cắm vững chãi trên mặt ván gỗ như rễ cây già cắm sâu vào hốc đá vôi.
“Không được hoảng!” Cụ Hòa cất giọng trầm đanh, truyền trọn sự điềm tĩnh sang hai người trẻ. “Thạch, chỉnh lại góc nghiêng của phiến thứ ba trăm chín mươi tám! Mai, quét lớp vữa lót ngay, gió cuốn khô mặt hồ bây giờ!”
Tiếng cụ như chiếc neo kéo Thạch và Mai khỏi cơn hoảng loạn. Thạch nghiến răng, trán ướt đẫm mồ hôi dù gió lạnh buốt thấu xương. Anh luồn bàn tay thô ráp vào đáy phiến ngói thủy tinh dày hai mươi milimét, nương theo nhịp rung lắc của giàn giáo mà lựa chiều đưa gờ mộng âm trượt khít vào gờ mộng dương của phiến bên dưới.
Mai thoăn thoắt quệt bay sắt vào thùng vữa xám sẫm pha nhựa xương rồng sa mạc. Bàn tay cô không hề run rẩy, miết một vệt vữa dày nửa phân thật đều tay dọc theo rãnh đá, rồi chèn dải gioăng da thú ngâm mỡ lợn lòi béo ngậy vào chính giữa. Khi phiến ngói đè xuống, lớp vữa dẻo đàn hồi ôm khít lấy dải đệm da, nuốt trọn mọi khe hở nhỏ nhất. Độ co giãn của mỡ động vật kết hợp cùng tính kết dính bền bỉ của tro núi lửa pozzolana sẽ tạo thành một lớp đệm dẻo dai, đủ sức gánh chịu chấn động cơ học khi giông lốc gầm rú bên ngoài.
“Ổn rồi, thầy ơi!” Thạch thở hổn hển, quệt vội giọt mồ hôi đang lăn dài xuống cằm.
Dưới chân giàn giáo, giữa làn khói bụi mờ ảo của dàn đuốc dầu vừa được châm lại vội vã, bóng dáng bà Sáu Dừa hiện ra cùng mẹ già của Thạch. Bên cạnh hai người phụ nữ là bé Út, bả vai phải bọc lớp vải sạch gọn gàng, hai tay ôm khư khư chiếc ấm đất bốc khói nghi ngút.
“Anh Hòa ơi! Thạch ơi!” Bà Sáu Dừa chụm tay gọi với lên, giọng sang sảng ấm áp xuyên qua tiếng gió hú. “Uống hớp nước chua quả rừng cho nhuận họng, rửa bớt bụi kiềm dính ngoài da đi các con!”
Chiếc giỏ tre lót rơm của dàn ròng rọc từ từ hạ xuống. Bé Út nhanh nhảu đặt chiếc âu gỗ đựng nước quả rừng nấu chua vào giỏ, ngước cặp mắt trong veo nhìn lên sàn cao:
“Anh Thạch ơi, cố lên! Cháu đợi mái vòm của thầy Hòa che mưa cho cả nhà!”
Nhìn ánh mắt ngây thơ của đứa trẻ từng suýt mất đi cánh tay vì giọt kiềm rò rỉ từ vòm nhựa phế phẩm dạo nọ, cụ Hòa siết chặt chiếc bay sắt trong tay. Nỗi đau mất mát người thân trong cơn Bão Điện Từ Xuyên Tâm năm xưa như một vết sẹo nhức nhối sâu thẳm, nhưng giờ đây, vết sẹo ấy đã hóa thành ngọn lửa âm ỉ sưởi ấm ý chí của cụ. Cụ không thể để bất kỳ sinh mạng nào trong số ba trăm hai mươi con người ở tiền đồn này phải chịu chung bi kịch ấy nữa.
Ròng rọc kéo âu nước lên. Cụ Hòa chỉ nhấp một ngụm nhỏ làm dịu cổ họng đang rát bỏng vì bụi kiềm, rồi đưa cho Thạch và Mai chia nhau. Nước quả rừng chua thanh làm tan đi vị chát đắng đầu lưỡi, xua tan cơn mệt mỏi rã rời trong từng thớ cơ.
“Kéo phiến cuối cùng lên!” Cụ Hòa hướng xuống bệ nâng phía dưới phát lệnh.
Mọi thanh âm xì xào dưới mặt đất im bặt. Hàng trăm con mắt của cư dân Vực Xanh đồng loạt dồn về phía chiếc giỏ tre đang từ từ rời sàn đá. Bên trong là phiến ngói thứ bốn trăm — viên ngói khóa vòm hình nêm đặc biệt, mảnh ghép cuối cùng để khép kín toàn bộ khẩu độ ba mươi mét của vòm hang.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…