Mâm Đồng Khảm Bạc Lắng Tiếng Chuông Làng
Chương 12: Lửa Đêm Mười Hai Búa
Dịch Đình Tuyên đứng lặng bên bệ rèn, ánh mắt đăm chiêu dõi theo Dịch Đại Dũng vừa từ chái hiên sau quay vào, nhẹ tay cài then cửa gỗ. Qua kẽ nứa thưa, bóng tối đặc quánh của bãi bồi Trâu Lạc đã nuốt trọn bóng hình thoăn thoắt của Nhân Hiệu. Ngoài hàng rào tre gai quanh xưởng, hơn hai mươi ngọn đuốc của lính phủ vẫn bập bùng cháy đỏ quạch, hắt lên nền trời từng vệt khói khét lẹt. Tiếng gươm giáo va vào bao da lách cách cùng bước chân tuần tra rầm rập của nha đinh vọng vào đều đặn, tựa như một chiếc thòng lọng đang siết chặt lấy làng nghề trong đêm thứ hai mươi tám.
Thời gian chỉ còn lại vỏn vẹn hai ngày hai đêm.
Cụ Tuyên quay người, bước lại gần hương án tổ sư bách nghệ. Mùi trầm hương ngan ngát quyện cùng hương than lim già lửa xua đi phần nào mùi ẩm mốc của gian xưởng đóng kín. Cụ với tay khêu bấc đĩa đèn dầu lạc đặt trên sập gỗ lim. Ánh lửa hạt đỗ bừng sáng, soi tỏ chiếc mâm đồng cốt thau khảm bạc lá đầu tiên nằm trang nghiêm bên bài vị tiên hiền, đồng thời rọi rõ mười hai gương mặt đanh lại vì âu lo của những tay búa cừ khôi nhất họ Dịch.
Hiểu rõ gánh nặng nghìn cân đang đè lên vai cháu con, cụ Tuyên cất giọng trầm ấm, âm vang đĩnh đạc tựa tiếng khánh đồng:
“Bà con, các chú em! Vòng vây lính phủ dẫu kín như nêm, nhưng lòng người Đại Bái thì không then sắt nào khóa nổi. Chu Tri phủ muốn dồn ta vào chỗ chết để cướp bãi Trâu Lạc, nhưng chúng quên mất rằng ngọn lửa của tổ nghề đã truyền qua mấy trăm năm chưa từng lụi tắt. Đêm nay, mười hai bệ lò phải đỏ lửa thâu đêm. Chín bộ mâm còn lại, từng nhát búa, từng đường ve phải dồn trọn khí phách và danh dự của phường thợ!”
Lời nói hào sảng của cụ như rót thêm sinh khí vào lòng đám thợ. Mười hai tay búa đồng loạt chắp tay vái tạ trước án hương, ánh mắt bừng lên quyết tâm sắt đá.
Không để lãng phí một khắc nào, cụ Tuyên đứng ở trung tâm xưởng lớn, bắt đầu điều phối công việc bằng sự chuẩn xác của một bậc đại tượng trăm năm. Cụ nhìn khắp lượt rồi dõng dạc phân định: ba thợ lành nghề Dịch Kế, Dịch Thao, Dịch Luân phụ trách bệ đe nguội, chuyên tâm tán thỏi bạc nõn thành từng lá mỏng tanh như cánh chuồn chuồn; bốn tay búa vạm vỡ nắm bễ lò nung kim thau, gò nắn phẳng phiu bốn phôi mâm còn lại sao cho gõ lên đanh giòn, không một vết gợn; năm người còn lại, do Dịch Đại Dũng đứng đầu, lập tức cùng cụ cầm ve thép gõ rãnh, chuẩn bị ngậm bạc lên những cốt mâm đã định hình.
Chỉ trong chốc lát, mười hai bệ lò quanh xưởng rực hồng ánh lửa than lim. Tiếng quạt bễ phì phò hòa cùng tiếng búa quai nện xuống đe sắt chan chát, làm bừng sáng cả một góc trời đêm ven sông Đuống.
Cụ Tuyên thoăn thoắt ghìm mũi ve thép trên mặt mâm thau đỏ trầm. Vừa làm, cụ vừa cất giọng trầm bổng kể lại tích xưa về mười hai vị tổ sư bách nghệ thuở đầu lập ấp:
“Năm xưa, khi mười hai cụ tổ mang theo bầu đục, bễ rèn về cắm đất bên dòng sông Đuống, bãi Trâu Lạc này còn hoang vu lau sậy ngập đầu. Trời đông giá rét, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nhưng hễ bễ lò nổi lửa là lòng người lại ấm. Các cụ rèn cuốc xẻng khai hoang, đúc chuông khánh giữ làng, lấy chữ Tâm làm gốc, lấy chữ Nhẫn làm đe. Tiếng búa của người thợ Đại Bái bao đời nay không chỉ để mưu sinh, mà còn là tiếng lòng son sắt bảo vệ mảnh đất này…”
Tiếng kể của cụ Tuyên thâm trầm, da diết như tiếng chuông chùa xa vắng giữa đêm khuya. Từng câu từng chữ thấm sâu vào lòng đám thợ trẻ, xua tan nỗi mỏi mệt của cơ bắp và giá lạnh sương đêm. Nhịp búa đập xuống càng lúc càng nhịp nhàng, dẻo dai lạ kỳ.
Tiếng kim khí va đập giòn giã, tiếng ve thép lách cách gọt rãnh xuyên qua vách gỗ, dội thẳng ra ngoài vòng vây. Qua khe cửa liếp, cụ Tuyên khẽ liếc mắt nhìn ra. Cụ thấy rõ những bóng lính phủ bồng gươm đứng quanh hàng rào bắt đầu xao động. Một vài tên nha đinh ghé tai nhau xì xào bàn tán, ánh mắt lộ vẻ hoang mang khi thấy đám thợ làng bị vây hãm ngặt nghèo mà bên trong vẫn rền vang khí thế lao động kiên cường, không hề có lấy một tiếng than vãn hay dấu hiệu nao núng.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…