Mâm Đồng Khảm Bạc Lắng Tiếng Chuông Làng
Chương 14: Đêm Trước Phán Quyết
Dịch Đại Dũng siết chặt nắm tay, gườm gườm dõi theo từng cử động của quan binh phủ nha. Dưới uy thế của Khâm sai Lê Thanh Nhã, Chu Bỉnh Thạc lồm cồm bò dậy, mặt xám như tro tàn, không dám ho he nửa lời, vội vã xua nha đinh lủi thủi rút khỏi xưởng rèn. Hai vệ sĩ của Khâm sai bước tới cắm lệnh kỳ trước cổng, nghiêm cấm kẻ gian quấy nhiễu, rồi cùng Khâm sai tạm rời xóm thợ để chuẩn bị cho buổi công đường sáng mai. Trước khi đi, vị đại thần áo chàm còn kín đáo gật đầu với cụ Tuyên, ngầm ưng thuận cho phường thợ hoàn tất cống phẩm.
Bóng áo lính vừa khuất sau rặng tre đầu ngõ, cả xưởng rèn họ Dịch vỡ òa thở phào. Đám trai tráng buông đòn cản, tựa lưng vào cột gỗ thở dốc, mồ hôi ướt đẫm áo nâu sồng. Dẫu thoát hiểm trong gang tấc, không khí trong xưởng vẫn căng tựa dây đàn. Ai nấy đều hiểu, sớm mai là ngày định đoạt vận mệnh của năm mươi mẫu bãi bồi Trâu Lạc và lò rèn tổ nghiệp.
Cụ Tuyên quay lại nhìn khắp lượt con cháu, giọng sang sảng ấm áp phá tan nỗi âu lo:
“Các con, các cháu! Trời che mắt giặc, Khâm sai đã mở đường công lý. Nhưng người thợ bách nghệ muốn đứng vững trước công đường thì sản vật dâng lên phải vẹn toàn mười phần. Tám chiếc mâm kia đã định hình, hai chiếc còn dở trên đe sắt quyết không thể để khuyết. Một nhát búa buông lơi lúc này là phụ công tổ tiên, phụ lòng bách tính.”
Ngực Dũng nóng rực như có than nung. Anh bước lên khoanh tay thưa:
“Cụ tổ yên lòng! Đêm nay dẫu thức trắng, cháu cùng anh em cũng quyết chạm xong hai bộ mâm cuối cùng!”
Cụ Tuyên gật đầu, bảo mọi người chia nhau nghỉ ngơi canh gác vòng ngoài, chỉ giữ lại Dũng cùng ba tay búa lão luyện bậc nhất họ Dịch.
Đêm hai mươi chín buông xuống, phủ trùm bóng tối đen kịt lên dải đất ven sông Đuống. Bốn ngọn đèn dầu lạc khêu bấc to hắt ánh vàng ấm áp lên hai tấm cốt mâm thau đỏ trầm. Không gian xưởng rèn chỉ còn tiếng ve thép lách cách giòn giã và nhịp thở đều đặn của người thợ.
Dũng ngồi xếp bằng trên đôn gỗ nghiến, tay trái ghìm sống ve, tay phải vung chiếc búa con chuốt bằng gỗ sến. Từng thớ gân trên cánh tay anh đã thuần thục cách nhả búa. Anh tỉ mỉ gõ từng đường rãnh ngậm uốn lượn mềm mại. Trên chiếc mâm thứ chín, Dũng gò bạc lá thành hình con thuyền nan giương buồm lướt sóng trên dòng sông Đuống — gợi nhớ nghĩa tình dân chài bến Thấu chở than lim chi viện trong đêm bão. Còn trên chiếc mâm thứ mười, anh dồn trọn tâm lực khảm cụm cây đa cổ thụ và mái đình Đại Bái rêu phong, nơi chở che bao thế hệ thợ rèn từ thuở lập làng. Bạc nõn mỏng tanh như cánh chuồn chuồn dưới nhát búa miết khéo léo của Dũng cứ thế ngậm chặt vào lòng kim thau, phẳng lì không gợn một vết gờ.
Đang lúc dồn tâm trí vào từng nét chạm, tai Dũng khẽ giật mình khi nghe tiếng lá khô lạo xạo ngoài chái xưởng. Anh ra hiệu cho ba người thợ bạn, rồi nhẹ nhàng lướt nhanh ra cửa nách. Dưới ánh trăng suông mờ ảo, một bóng đen lén lút bò sát vách nứa, tay cầm chiếc lọ sành nhỏ, toan thò que tre tẩm chất lỏng bôi vào mặt trong của cốt mâm khảm bạc.
Nhanh như cắt, Dũng lao tới vặn ngược cổ tay bóng đen, đè chặt hắn xuống đất, tước phăng chiếc lọ sành. Khi lôi hắn vào giữa ánh đèn xưởng rèn, đám thợ không khỏi giật mình: đó là gã thợ phụ tên Mão, kẻ vốn hay la cà cờ bạc ngoài chợ phủ.
Chiếc lọ sành vỡ miệng, bốc mùi hăng nồng quen thuộc của dầu trẩu. Dũng gằn giọng:
“Mão! Mày làm trò bỉ ổi gì ở đây giữa đêm hôm khuya khoắt? Lọ dầu trẩu này dùng để làm gì?”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…