Mạng Lưới Tháp Báo Động Ngăn Lũ Đầu Nguồn
Chương 3: Mối Nghi Ngờ Dưới Đáy Nước
Tiếng thốt kinh hoàng của lão Cổ Thiết như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Tạ Hoài Nhơn giữa cơn mưa dầm đầu nguồn. Những hạt cát bở tơi rơi lả tả qua kẽ tay cụt của người thợ đá già, chìm nghỉm vào dòng nước réo sôi réo sục dưới chân bến Hắc Thạch.
"Lão Cổ, bác có chắc chắn không?" Hoài Nhơn siết chặt hai nắm tay, giọng khàn đặc.
"Chắc như đinh đóng cột!" Lão Cổ Thiết quắc mắt nhìn về phía thượng nguồn, nơi dòng sông Mãnh Thủy đang cuộn trào sắc vàng đục ngầu: "Cả đời lão đục đá mài non ở mỏ Thạch Tân, thứ cát pha đất mùn mục ấy dù có nghiền nát thành bột lão cũng ngửi ra mùi. Hai năm trước, nha dịch huyện Lạc Bình xua lính canh cầm roi lùa phường thợ đào trộm đêm ngày. Bọn chúng bảo chở đi đắp nền đường, hóa ra lũ khốn nạn ấy dám nhét cả vào ruột đê Ngũ Lý!"
Hoài Nhơn hít một hơi buốt lạnh lồng ngực. Ông cúi xuống bế xốc Chấn Phong lên tay, che vạt áo tơi rơm trùm kín đầu đứa con nhỏ. Cậu bé ngoan ngoãn nép vào ngực cha, đôi mắt đen láy lặng lẽ nhìn mô hình đê cát sập đổ dưới nền đất ướt.
"Bác Cổ, chuyện này chớ vội hở môi với ai," Hoài Nhơn hạ thấp giọng dặn dò: "Đê Ngũ Lý là mối làm ăn của Tuần phủ Quách. Lộ ra lúc này, phường thợ đá Hắc Thạch khó giữ nổi tính mạng."
Lão Cổ Thiết nghiến răng ken két, gật mạnh đầu rồi cúi nhặt chiếc búa sắt: "Lão hiểu. Chú đưa thằng bé lên đài gác mau đi, gió nguồn bắt đầu trở lạnh rồi đấy."
Đưa con trở lại chòi canh Hỏa đài số Một trên đỉnh Nhạn Hống, Hoài Nhơn nhóm lại đống lửa sưởi trong góc chòi. Sau bát cháo gạo lức lót dạ, Chấn Phong cuộn tròn trong tấm chăn chàm mỏng thiếp đi sau nửa ngày lội mưa dầm dề. Thế nhưng, tiếng nói thơ ngây của con trẻ cùng hình ảnh que củi sập gãy bên vũng cát sụt lún cứ lởn vởn trong đầu Hoài Nhơn, tựa như những nhát búa nện rát bỏng vào tâm can, khiến ông trằn trọc không sao chợp mắt nổi.
Gió rít qua khe liếp từng hồi rin rít như tiếng rên xiết của núi rừng. Hoài Nhơn rón rén bước tới góc tối của chòi canh, quỳ một gối xuống trước chiếc rương gỗ lim cũ kỹ đóng đai sắt. Chiếc chìa khóa đồng han gỉ cắm vào ổ phát ra tiếng kêu khô khốc. Dưới lớp áo ngắn bằng vải thô và mảnh chiếu rách lót đáy, ông cẩn thận nâng lên một bọc vải dầu buộc chặt bằng dây gai thắt nút.
Mở từng lớp vải dầu đã ố vàng theo năm tháng, cuốn sổ tay công trình bìa bọc da bò hiện ra trước mắt. Từng trang giấy bản đã ngả màu nâu sẫm, ghi chép chi tiết các đợt đo đạc lòng sông Mãnh Thủy cùng bản vẽ kỹ thuật kè đá mà bảy năm trước đích thân ông đã lặn lội suốt ba mươi dặm thác ghềnh để hoàn thành.
Ngón tay chai sần của Hoài Nhơn run run lần theo nét mực tàu vẽ mặt cắt địa tầng hẻm Nhạn Hống và đoạn đê Ngũ Lý. Ánh lửa bập bùng chiếu rọi vào những dòng ghi chú nắn nót thuở ông còn làm đốc công ở nha môn: “Chân móng hạ lưu sông Mãnh Thủy phải dùng đá hộc ken khít ba lớp, lõi đê đầm đất sét vàng nện chặt cùng vôi sống; tuyệt đối không dùng sa thạch non hay cát bở bãi bồi, nước ngấm ắt sinh lỗ rỗng tự sụp.”
Bảy năm trước, Tuần phủ Quách Trọng Khôi vừa nhậm chức đã đòi cắt giảm hai phần ba lượng đá hộc, viện cớ tiết kiệm ngân khố để đắp con đê dài năm dặm. Khi ông kiên quyết phản đối, không chịu đặt bút ký khống vào chứng từ vật liệu, bản vẽ bị xé toạc ngay trước công đường. Ông bị gán tội cản trở đại sự triều đình, lột bỏ chức vị đốc công rồi bị đày ải lên chòi khói heo hút nơi đỉnh gió này. Đến hai năm trước, Quách Trọng Khôi đôn đốc nha môn khánh thành đê Ngũ Lý, rêu rao đã tiêu tốn trọn vẹn ba vạn lượng ngân khố triều đình ban cấp để xây bức tường thành vạn trượng chắn lũ cho huyện Lạc Bình.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…