Mảnh Than Đước Kê Chân Cột Mốc Nam Biên
Chương 16: Trăm gánh huyền thạch đáy đầm
Tiếng reo của anh trinh sát vừa dứt bên mé bến, cụ Dư Văn Hiền khẽ vuốt chòm râu bạc dài chấm ngực, đôi mắt tinh tường dõi về vệt rạng đông đang ửng đỏ phía ngọn rừng ngập mặn. Gió sớm từ vịnh biển thổi vào ràn rạt, mang theo vị mặn nồng và mùi bùn bãi bồi quen thuộc đã gắn bó với cụ suốt hơn trăm năm cuộc đời. Bùi Doãn Tường bước vội lại gần, nét mặt còn vương vẻ mệt nhọc sau đêm vây bắt phường gian tặc nhưng ánh mắt đã rực lên niềm phấn khởi khôn tả:
“Cụ Bác! Bè chở trụ đá hoa cương triều đình đã cập doi cồn Vàm Láng an toàn. Chúng ta cho hạ đặt bia mốc ngay con nước này chăng?”
Cụ Hiền lắc đầu, bàn tay chai sạm nhuộm đen màu khói than vỗ nhẹ lên vai viên Khâm sai trẻ, giọng trầm đục mà chắc nịch:
“Chớ vội, Thầy Khâm sai. Đá nghìn cân đặt xuống bùn non khi chưa có đế thì chẳng khác nào ném sắt vào đầm lầy. Việc cốt tử bây giờ là dỡ đại lò than đước. Hồn cốt của cọc mốc vạn niên nằm ở dưới chân nó, móng chưa vững thì bia sao đứng đời đời.”
Dứt lời, cụ dẫn Doãn Tường cùng bà con trở lại gò đất cao. Sau chuỗi ngày đêm ngậm lửa yếm khí cùng cơn dông gió hung hiểm đêm trước, vòm đại lò đất sét sừng sững tọa lạc giữa bãi quang nay đã nguội đều. Lớp bùn sét trộn rơm trát bên ngoài khô cong, chuyển sang màu đỏ gạch pha tro xám, vết nứt bị kẻ gian đục phá đêm qua nay đã được bùn sét bịt kín phẳng lì.
Trước cửa lò còn đóng kín, cụ Hiền rút chiếc bát sành da lươn sứt miệng giắt bên hông—kỷ vật mở cõi từ thuở theo Lễ Thành hầu năm Mậu Dần—múc một bát nước vối nấu lá tràm tươi rưới xuống chân lò. Cụ chắp hai bàn tay gầy guộc, hướng về phía bến sông lâm râm khấn tạ thổ thần, sông nước và anh linh tiền nhân đã phù hộ cho mẻ than ngậm lửa bình an qua cơn bão lốc.
Khấn tạ xong xuôi, cụ Hiền quay lại nhìn đám thợ củi, cất tiếng vang ấm:
“Mấy đứa! Cạy cửa lò!”
Lê Văn Cà dù bắp tay trái còn quấn mảnh vải băng sau nhát chém của tên giặc đêm qua, vẫn hăm hở cùng đám tráng đinh lực lưỡng vác đòn bẩy gỗ lim xông tới. Từng mảng bùn sét dày cộm phong kín cửa lò được nạy tung ra. Một luồng hơi ấm nồng nàn mùi gỗ đước chín ngấu, thanh khiết không vương mùi khói khét, từ trong lòng vòm tỏa ra ngào ngạt khắp bến sông.
Cụ Hiền bước tới sát miệng lò, ánh mắt rực sáng. Trong lòng vòm tối thẫm, một vạn cân củi đước cổ thụ đốn từ lõi rừng sâu nay đã hóa thành những thân than dài hai thước kinh nằm xếp lớp ngay ngắn, tuyệt nhiên không một cây nào bị cháy vụn thành tro mạt. Từng súc than đen nhánh, ánh lên sắc tím than huyền ảo như những thỏi huyền thạch được gọt giũa từ lòng đất mẹ. Cụ cúi người, nhấc một thanh than đước to cỡ bắp chân, đưa lên gõ nhẹ vào lưỡi rựa trên tay Cà Ná.
“Coong! Coong!”
Tiếng thanh than va vào thép nguội phát ra âm thanh trong veo, ngân nga chẳng khác nào tiếng chuông khánh đồng gióng giữa thinh không tĩnh lặng. Cụ Hiền khẽ vuốt ve bề mặt nhẵn bóng không một vết nứt nẻ, gật đầu mãn nguyện:
“Đạt rồi! Thớ gỗ đanh lại như gang thép, lửa ngậm kín tuyệt đối nên ruột than trơ cứng vô cùng. Đất trời không phụ lòng người, gom đủ trọn vẹn đúng một trăm gánh than trơ thượng hạng, không lẫn một nắm tro bụi!”
Tiếng reo hò rộn rã bùng lên khắp khoảnh gò. Bà con xóm đước cùng phu phen thoăn thoắt xốc đòn gánh, dùng rọ mây chia nhau gánh từng mẻ huyền thạch đen bóng rời cửa lò, rập rình chuyển xuống mé rạch.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…