Mảnh Than Đước Kê Chân Cột Mốc Nam Biên
Chương 5: Bí thuật ngậm lửa dưới đáy đầm
Cụ Dư Văn Hiền áp lòng bàn tay chai sạn lên vách đất nung dày dặn của đại lò than U Minh. Hơi nóng âm ỉ truyền qua lớp đất sét pha rơm, đầm ấm và vững chãi tựa như nhịp thở của một sinh linh khổng lồ đang say ngủ dưới mái lợp dừa nước. Trải qua một trăm hai mươi sáu năm dãi dầu nơi đầu sóng ngọn gió, già này chỉ cần khẽ hít một hơi khói mỏng lượn lờ nơi lỗ thông hơi trên vòm lò là biết củi đước bên trong đã thấu lửa hay chưa. Đước già U Minh ngậm no vị mặn chát của biển Tây, khi đưa vào lò vòm đắp kín bằng bùn non thì phải ém khói thật khéo, tuyệt đối không được để ngọn lửa bùng lên thiêu rụi thành tro, mà phải giữ cho ruột cây âm thầm ngậm lửa yếm khí suốt nửa tháng ròng.
Lỗ tai cụ già hơn trăm tuổi bỗng giật nhẹ. Giữa tiếng gió chướng ràn rạt thổi qua tán lá đước và tiếng nổ tí tách từ miệng lò, cụ nghe rõ tiếng dầm bơi xuồng khua nước bì bõm dưới con rạch trước chòi.
“Ông Cố ơi! Con đưa Thầy Khâm sai tới rồi đây!”
Tiếng réo gọi giòn giã của thằng Cà Ná xé toạc màn khói lam u tịch. Cụ Hiền chống cây gậy đước đứng thẳng dậy, đôi mắt quắc thước nheo lại nhìn ra bến rạch. Chiếc xuồng ba lá chở củi đước vừa cập sát doi đất lầy. Chắt ngoại của cụ thoăn thoắt nhảy lên bờ cột dây lòi tói, theo sau nó là một chàng trai trẻ dáng người khôi ngô nhưng vạt áo vải thô đã ướt đẫm bùn phèn quánh đặc. Bên hông người trẻ tuổi ấy đeo một ống trắc đạc bằng đồng thau cùng cuộn địa bạ bọc da thú cẩn thận. Dù vẻ mặt lộ rõ nét mỏi mệt sau đêm dài dầm mình trong phong ba bão mặn, nhưng đôi mày kiếm của chàng vẫn toát lên vẻ cương trực, đoan chính.
Vừa bước qua bậu cửa chòi than, viên Khâm sai trẻ liền buông ống trắc đạc xuống chõng tre, nghiêm cẩn vén vạt áo dính bùn đất, quỳ sụp xuống nền đất nện trước mặt cụ Hiền:
“Tiểu chức là Bùi Doãn Tường, vâng sắc chỉ Chúa thượng vào cắm mốc định ranh Tầm Phong Long. Trăm lạy Cụ Bác, con đường cùng bế tắc, nay mạo muội tìm đến xin bậc tiền bối mở lòng chỉ giáo!”
Cụ Hiền thoáng ngỡ ngàng trước lễ tiết cung kính của một vị quan khâm sai triều đình. Già này vội bước tới, đôi bàn tay đen nhẻm bồ hóng run run đỡ lấy hai cánh tay rắn rỏi của chàng trai trẻ:
“Thầy Khâm sai mau đứng lên! Già này chỉ là một lão nông đốt than trốn đời nơi góc rừng ngập mặn, đâu dám nhận đại lễ dường này của quan sai triều đình. Mời Thầy ngồi xuống uống hớp nước cho lại sức.”
Cụ Hiền quay sang vách nứa, với tay nhấc chiếc ấm đất nung đã ngả màu sương khói, cẩn thận rót nước vối sóng sánh vào chiếc bát sành da lươn. Chiếc bát thô mộc, vành miệng có một vết mẻ con con đã mòn nhẵn dấu vết thời gian. Đó là kỷ vật duy nhất cụ còn giữ lại từ năm Mậu Dần, thuở cụ theo chân Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh dong thuyền vào mở cõi phương Nam gần sáu mươi năm trước. Cụ đưa hai tay bưng bát nước trao cho Doãn Tường. Nhìn chàng trai trẻ uống cạn từng ngụm nước ấm một cách trân trọng, ánh mắt cụ ánh lên niềm ấm áp bao dung:
“Thằng Cà Ná vừa chèo xuồng vừa kể già này nghe phong thanh rồi. Con nước rong đêm qua dữ dội lắm phải hôn? Trụ đá hoa cương ngàn cân của triều đình ra sao rồi?”
Doãn Tường siết chặt hai bàn tay, giọng chùng xuống vì xót xa:
“Thưa Cụ Bác, đúng như lời Cà Ná chú em từng cảnh báo, phép đo đạc bằng cọc tràm dây giằng theo sách vở kinh thành không cự nổi con nước U Minh. Đêm qua sóng lớn ập vào, giá gỗ bị bẻ gãy, dây giằng trắc lượng lại bị kẻ gian lén dùng dao sắc cắt đứt. Cả trụ đá hoa cương nặng ngàn cân đã bị bùn nhão bãi bồi Vàm Láng nuốt chìm mất tích không còn tăm hơi! Sáng nay, Hương cả Mãnh còn giở giọng ép con làm sớ tâu xin dời đường ranh lùi sâu vào gò cao ba dặm để che giấu mưu toan chiếm đoạt bãi bồi rừng đước.”
Nghe đến ba chữ “chú cả Mãnh” cùng mưu đồ “lùi ba dặm”, chòm râu bạc như cước của cụ Hiền khẽ rung lên. Già này sống hơn một thế kỷ ở chốn này, sao không hiểu dải bãi bồi mười hai dặm Vàm Láng là huyết mạch giao thương, là tấm lá chắn che chở cho xóm làng trù phú. Từng tấc đất ngọn rau nơi đây đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu của lớp lớp lưu dân thuở trước. Nay bọn cường hào toan dâng cõi bờ cho lũ giặc buôn lậu, hỏi trời đất nào dung thứ!
Thấy ánh mắt Doãn Tường rực lên ngọn lửa kiên trinh, không hề có nửa phần nao núng trước cường quyền hay gian nan, cụ Hiền gật đầu cảm phục:
“Khá lắm! Chúa thượng phái được một người biết vì cõi bờ non sông như quan em vào đây, thật là phúc lớn cho dân U Minh. Đi theo già này ra mé bãi bồi!”
Cụ Hiền chống gậy bước ra khoảng đất trống trước cửa lò, nơi mé rạch tiếp giáp với vạt đầm lầy ngập mặn. Thằng Cà Ná vội vã chạy theo sau xách chiếc giỏ tre. Gió biển mặn chát từ vịnh Tây Nam thổi thốc vào mặt, mang theo vị phèn chua đắng nghét. Trước mắt họ, bùn non bãi bồi sủi bọt xám ngoét, mềm nhão đến mức chỉ cần cắm một cành cây xuống là bùn lập tức nuốt chửng không thấy đáy.
Doãn Tường nhìn bãi bùn lún, nét mặt thoáng vẻ âu lo:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…