Mảnh Than Đước Kê Chân Cột Mốc Nam Biên
Chương 6: Xuống lạch bãi bồi U Minh
Sương sớm U Minh còn bảng lảng trên mặt rạch Cái Tàu thì cụ Dư Văn Hiền đã thắt lại dải khăn rằn quanh trán. Bàn tay cụ buông khỏi bàn tay Bùi Doãn Tường sau cái siết chặt ước hẹn đêm qua, khẽ vỗ nhẹ lên vai chàng khâm sai trẻ tuổi như một lời hứa chắc như đinh đóng cột. Tuổi một trăm hai mươi sáu dãi dầu sương gió không làm bước chân cụ chậm lại khi bước xuống bến sông. Ngoài kia, con nước kém vừa bắt đầu rút ròng, để lộ ra những bãi bùn non thẫm màu phù sa đang ngún khói sương bốc lên ngai ngái.
“Thằng Cà đâu, dọn hai chiếc xuồng ba lá mau!” Cụ Hiền cất giọng trầm ấm giục thằng chắt ngoại. “Nước kém phơi bãi là lúc nhìn rõ lòng rạch nhứt. Lỡ trễ con nước này, triều rong ập vô là đầm lầy biến thành biển nước mặn, khôn dại gì cũng bị bùn trôi nuốt sạch.”
Thằng Cà Ná dạ ran, thoăn thoắt vác cặp chèo đước đặt xuống sạp xuồng. Bùi Doãn Tường cùng lính trắc địa nai nịt gọn gàng, bên hông mang thước tầm xích và cuộn địa bạ bọc da nai, cung kính bước xuống chiếc xuồng đi sau. Hai chiếc thuyền nan nhẹ lướt trên mặt rạch mờ sương, nương theo dòng chảy xiết của con nước ròng tiến thẳng vào lõi đầm lầy Vàm Láng.
Cụ Hiền ngồi khoang mũi chiếc xuồng đi trước, đôi mắt quắc thước dõi theo từng khúc quanh của dòng kinh. Càng vào sâu, cây cối càng ken dày đặc nghẹt. Rừng đước bạt ngàn vươn những chùm rễ cong vút cắm thẳng xuống lòng bùn đen tựa muôn ngàn cánh tay hộ pháp ghì giữ lấy dải đất biên thùy. Gió biển mặn chát thốc từng cơn ràn rạt, rỉ tai cụ những thanh âm quen thuộc của hơn một thế kỷ mở cõi.
Đến khúc lạch chia ba nhánh bùn lầy, cụ Hiền đưa tay ra hiệu cho hai chiếc xuồng áp sát nhau rồi cắm sào đứng lại. Cụ nhìn Doãn Tường đang chăm chú ngắm nghía địa đồ bằng ánh mắt đầy tin cậy, rồi cúi người thọc sâu bàn tay gầy guộc chai sạn nhuộm đen màu khói than xuống dòng nước đục.
“Thầy Khâm sai ngó coi,” cụ Hiền vớt lên một vốc bùn nhão, xòe ra trước mũi thuyền. “Bùn non xứ này ngó le lói vậy chớ chia làm hai thứ rành rọt. Thứ bùn trôi lơ lửng này xốp xộp, tanh nồng mùi lá cây rữa mục, đó là lớp bùn mặt do sóng biển tống vô, cắm cọc tiêu hay đặt bia đá lên đây chỉ tổ làm mồi cho hà mặn.”
Cụ miết mạnh nắm bùn rồi hất xuống nước, đoạn lấy cây sào đước dài hơn trượng thọc mạnh xuống đáy lạch sâu hoắm. Cây sào ngập lút hơn nửa thì chạm phải một tầng vật chất chắc nịch, phát ra tiếng dội êm mà đanh. Cụ Hiền rút sào lên, đầu sào dính một mảng đất sét màu nâu ánh tím.
“Thầy ngửi thử coi,” cụ đưa đầu sào lại gần Doãn Tường. “Đất sét dẻo này dính quánh như sáp ong, nồng ấm mùi phèn già. Nó chạy ngầm dưới đáy bùn thành từng vệt dài, dân đi rừng tụi già gọi là sống trâu. Muốn gióng cọc tiêu thẳng tắp mười hai dặm biên giới mà không bị con nước rong xô lệch, bắt buộc phải dò trúng cái sống trâu ngầm này mà cắm cọc!”
Doãn Tường ghé mũi ngửi mảng đất sét, ánh mắt sáng ngời vẻ khâm phục, vội chắp tay:
“Đa tạ Cụ Bác chỉ dạy! Chữ nghĩa trong kinh thư triều đình chỉ dạy đo góc ngắm sao, nào ngờ địa tầng dưới đáy sình lầy lại có đạo lý sâu xa đến nhường này.”
Cụ Hiền mỉm cười, chòm râu bạc rung rinh theo ngọn gió chướng. Cụ khoát tay bảo Cà Ná nhảy xuống bùn mở tuyến. Vùng bãi lún nơi đây bùn ngập tới ngang thắt lưng, rễ đước già đan cài như mạng nhện bẫy chân người lội. Mấy người lính trắc địa vừa bước xuống đã lúng túng, bùn mặn mút chặt lấy bắp chân khiến họ chao đảo suýt ngã nhào.
Thấy vậy, Cà Ná cười xòa. Thằng nhỏ đen trùi trũi thoăn thoắt lội bùn nhẹ như rái cá, tay vung rựa quéo bén ngót chém phăng những vạt rễ đước chằng chịt chắn lối. Cứ đi được mươi trượng, Cà Ná lại ghim phập một cọc tre lõi xuống đúng sống trâu mà cụ Hiền vừa chỉ điểm, dùng hai tay ghì chặt thân cọc làm điểm tựa vững chãi cho lính trắc địa kéo căng sợi dây tầm xích đo đạc từng tấc đất.
Giữa lúc công việc đo đạc đang tiến triển thuận lợi thì từ khúc rạch phía sau bỗng vang lên tiếng khua dầm rầm rập. Một chiếc thuyền lườn mui vòm lợp lá dừa nước bóng bẩy rẽ sóng trờ tới.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…