Mành Tre Xeo Giấy Giữ Nếp Thư Viện
Chương 16: Khói Ấm Bên Bờ Suối
Con thuyền nan lướt nhẹ trên mặt nước phẳng lặng, rẽ sóng đưa ba người xuôi dòng trở lại bến đò quen thuộc. Khi mũi thuyền vừa chạm vào doi cát bồi ven suối Hạc, Khấu Hoài Ân đã nghe thấy những âm thanh xôn xao vọng lại từ con đường đất đỏ rợp bóng tre. Cả thôn Thanh Khê dường như đều đổ ra bờ suối tự lúc nào.
“Về rồi! Cụ Khấu đưa cháu Cảnh Chu về thật rồi bà con ơi!”
Tiếng hò reo rộn rã vang dội cả một góc bãi bồi. Mấy đứa trẻ chăn trâu chân trần nhảy cẫng lên trên vạt cỏ ướt, vừa chạy vừa vỗ tay rộn rã. Thím Ba, chú Đỗ cùng mấy chục người dân làng ùa xuống tận mép nước, rưng rưng đón lấy mạn thuyền. Nhìn thấy Cảnh Chu khoác manh áo chàm rách nát, bước đi tập tễnh nhưng gương mặt rạng rỡ vẻ bình an, các thím, các bà không kìm được mà sụt sùi lau nước mắt.
“Lạy trời lạy Phật, cửa quan sáng tỏ, cháu tôi không phải chịu cảnh oan khiên nữa rồi!” Thím Ba vội vã đưa tay đỡ lấy vai cậu bé, run run dúi vào lòng Cảnh Chu một bát cháo hoa nấu lá tía tô còn bốc khói nghi ngút. “Mau húp ngụm cháo nóng cho ấm tì vị đi con. Cả làng nghe tin huyện nha bắt bớ mà ruột gan như lửa đốt, nay thấy cháu lành lặn trở về mới dám thở phào.”
Mấy bác nông dân da rám nắng cũng xúm lại, người mang đến nắm khoai nướng thơm bùi, người ôm bọc lá ngải cứu sao giấm cùng mớ thuốc lá tươi giã nát để đắp vào những lằn roi mây còn rướm máu trên lưng cậu thư sinh. Cảnh Chu xúc động, hai tay run run đỡ lấy bát cháo, cúi đầu tạ ơn từng người làng xóm:
“Cháu đội ơn các bác, các chú, các thím… Nếu không có thầy con lặn lội kêu oan, không có bác Lý trưởng và bà con bao bọc, cháu đã bỏ mạng nơi chốn lao tù tăm tối.”
Khấu Hoài Ân đứng tựa gậy trúc bên bờ đá, ánh mắt từ hòa nhìn cảnh xóm giềng quây quần sẻ chia từng củ khoai, chén thuốc. Bao nhiêu mệt mỏi, nhọc nhằn suốt mấy ngày đêm dầm mưa vượt lũ bỗng chốc tan biến như bọt nước. Cụ hiểu rằng, tấm lòng thuần hậu của dân nghèo nơi đây chính là mảnh đất màu mỡ nhất để hạt mầm lương thiện đâm chồi.
Khi dòng người tản bớt để Cảnh Chu nghỉ ngơi, cụ Khấu bước chầm chậm về phía gian xưởng giấy. Sau trận bão dữ và những cú giày xéo lục soát của đám sai nha hôm trước, bãi đất ven suối xơ xác tiêu điều. Mái rạ gian chái bếp bị gió giật tốc một mảng lớn, bùn non đỏ quạch tràn vào ngập ngụa đáy bể xeo, còn bờ vách đất nung trấu dùng để sấy giấy thì sụt lở từng mảng nham nhở.
Khấu Hoài Ân cúi xuống, nhặt một mẩu nan trúc gãy dính đầy bùn, khẽ thở dài nhưng ánh mắt lại ngời lên sự kiên nghị. Cụ quay sang Cảnh Chu và bác Đỗ Thung, giọng trầm ấm:
“Đất đá có lở thì đắp lại, mái rạ có tốc thì lợp thêm. Cốt tơ của nhánh dâu tằm dẫu vùi trong nước lũ vẫn chẳng đứt, huống chi là gian xưởng nhỏ này. Ta cùng nhau dọn dẹp thôi.”
Nghe lời cụ, bà con lối xóm còn nán lại liền xắn cao ống quần, không ai bảo ai đều tự giác xắn tay vào việc. Chẳng mấy chốc, tiếng cuốc xẻng nạo vét bùn đất đã vang lên chan chát. Cảnh Chu dù lưng còn đau nhức nhưng vẫn nằng nặc đòi ra khơi dòng. Cụ Khấu thương xót bắt cậu ngồi trên bậu đá nhặt cỏ rác, còn cụ cùng đám thanh niên khỏe mạnh trong làng lội xuống mương, khơi thông con lạch nhỏ dẫn nguồn nước ngọt mát lành từ suối Hạc chảy ngược vào bể ngâm vỏ dâu. Đôi bàn tay cụ thoăn thoắt nhào nặn đất sét trộn rơm băm, đắp lại từng mảng vách nung trấu thật phẳng phiu, kín gió.
Chiều hôm ấy, Khấu Hoài Ân gọi bác Lý trưởng Đỗ Thung vào gian nhà chính. Cụ mở chiếc bọc vải điều, lấy ra mười lăm lượng bạc sáng lấp lánh từ món tiền thưởng của quan Tri phủ trao tặng, đặt ngay ngắn lên mặt chiếc chõng tre:

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…